- reset +
Home

Chào bạn, Khách quý
Tên đăng nhập: Mật mã: Tự động đăng nhập

Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ !
(1 người đang xem) (1) Khách
  • Trang:
  • 1
  • 2

NỘI DUNG CỦA CHỦ ĐỀ: Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ !

Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ ! 25 Tháng 10 2013 21:26 #2709

  • Lê ĐìnhQuỳ
  • không trực tuyến
  • Meteorite
  • Tổng số bài viết: 14
Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời

LỜI GIỚI THIỆU


Thiên văn học là khoa học nghiên cứu các thiên thể, cấu trúc của hệ thiên thể và là quy luật tiến hoá nói chung của vật chất trong Vũ Trụ. Nó là một khoa học được ra đời sớm bậc nhất và hiện nay vẫn là một mũi nhọn của khoa học hiện đại. Vũ Trụ mênh mông, huyền bí, hấp dẫn. Rung cảm trước sự hùng vĩ của Vũ Trụ, Giáo sư M.Faber - Viện sĩ viện hàn lâm khoa học Mỹ đã viết:
Vũ Trụ: Nguồn gây sảng khoái tâm hồn
Nguồn gợi cảm sáng tạo
Nguồn thách thức trí tuệ con người
Ở nước ta, tuy nhiên thiên văn học còn bị coi là khoa học “xa xỉ” chưa phù hợp với nền kinh tế còn chưa phát triển của đất nước, nhưng Vũ Trụ hấp dẫn vẫn kích thích không ít người. Bên cạnh một số không nhiều các nhà thiên văn lại có rất nhiều người hoạt động nghiệp dư. Họ thuộc đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi loại nghề nghiệp. Có người đã mạnh dạn nêu lên phương án cải cách lịch quốc tế. Có người đề cập vấn đề nguồn gốc sự sống, các nền văn minh trong Vũ Trụ. Thật là thích thú biết bao, trân trọng biết bao hiện tượng một nước còn nghèo, người ta phải tận lực hành nghề để sinh sống lại có nhiều người say mê khoa học “ngoại đạo” lạc quan đến thế !
Là một nhà điêu khắc - một hoạ sĩ tạo hình, ông Lê Đình Quỳ đã thực sự rung cảm trước vẻ đẹp huyền bí của thiên nhiên Vũ Trụ, tranh thủ mọi thời gian, bất chấp cả sức lực tìm hiểu thiên văn học, tự đọc, tự học, tự nghiên cứu.
Có thể từ đức tính ham hiểu biết, lòng say mê khoa học và năng khiếu tạo hình mà ông đã phác hoạ ra một bức tranh - một mô hình cấu trúc động của hệ Mặt Trời. Cái ý tưởng có thể xem là mới được bắt đầu từ các vụ nổ. Với 3 lần nổ đã hình thành ra ba nhóm Hành Tinh có vị trí và đặc điểm vật lý khác nhau. Mô hình động này đã tránh được sự vi phạm một định luật tự nhiên - Định luật “bảo toàn mômen động lượng”.
Ý tưởng mới trong lao động khoa học của ông Lê Đình Quỳ đã được trân trọng. Ông đã 3 lần báo cáo trước các cơ quan khoa học cấp quốc gia. Lần thứ nhất tại Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ngày (13/11/1984), lần thứ hai tại Viện nghiên cứu Khí tượng Thái Bình Dương (1985) và lần thứ ba tại Hội nghị Vật lý toàn quốc lần thứ năm, trước Tiểu ban Thiên văn và Vật lý Địa cầu (3/2001).
Tôi đánh giá cao tinh thần hăng say lao động khoa học của ông Lê Đình Quỳ, tâm đắc với ý tưởng của ông về nguồn gốc hệ Mặt Trời được bắt đầu từ các vụ nổ. Xin được chia sẻ niềm vui của ông cùng ông Nguyễn Xuân Sít và bà Lê Thị Hiệp - những đồng tác giả.

Giáo sư PHẠM VIẾT TRINH
Chủ tịch Hội Thiên văn Vũ Trụ Việt Nam



Lê Đình Quỳ trong Hội thảo Khoa học lần thứ nhất, năm 1984



Lê Đình Quỳ, Lê Thị Hiệp, Nguyễn Xuân Sít


Hội nghị Vật lý toàn quốc tháng 3 năm 2001
Nguyễn Đình Huân - Phó chủ tịch,
Phạm Viết Trinh - Chủ tịch Hội Thiên văn Vũ Trụ Việt Nam
Lê Đình Quỳ, Lê Thị Hiệp (từ trái sang)



LỜI TÁC GIẢ


Trở về với quá khứ xa xăm đi tìm “cụ tổ” - Người đã sinh ra Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng..... Đó là nội dung của giả thuyết mà chúng tôi muốn trình bày.
Đã bao đời nay khoa học nghiên cứu Vũ Trụ cũng chỉ mong trả lời chính xác câu hỏi: “Trái Đất từ đâu sinh ra, có từ bao giờ”? Trả lời đúng câu hỏi đó chúng ta có thể giải thích một cách lô gích về nguồn gốc Vũ Trụ.
Thế kỷ XX đã kết thúc, Khoa học Vũ Trụ đang nhanh chóng làm sáng tỏ “bản lý lịch” thực của các thiên thể và Vũ Trụ tổng thể. Với nhiều năm nghiên cứu tìm hiểu, suy nghĩ chúng tôi đưa ra một mô hình lý thuyết chứng minh: “Nguồn gốc Mặt Trời và các Hành Tinh” để có thể gợi ý đóng góp gì chăng với ngành khoa học này.
Dựa trên những mật mã của Vũ Trụ đã di truyền vào Trái Đất, dựa trên quy luật của hai diện tích âm và dương, dựa trên cơ sở của các tài liệu quan sát, tính toán thiên văn, sau khi đã nghiên cứu hầu hết tất cả những giả thuyết cơ bản của các nhà bác học, chúng tôi dựng mô hình giả thuyết này.
Vũ Trụ rất đa dạng, bí ẩn, hùng vĩ. Nhưng Vũ Trụ có quy luật thống nhất từ các thành viên cho tới cả tập đoàn sao và các loại vật chất trong Vũ Trụ tuy khác nhau nhưng cùng một quy trình chuyển hoá nhất quán về vật chất.
Giả thuyết này cũng nhằm chứng minh một chu trình khép kín và vĩnh cửu của thế giới vật chất - sinh ra phát triển, già cỗi, đến diệt vong rồi lại tiếp diễn lại từ đầu.
Trong giả thuyết vấn đề nhiệt năng được đưa lên hàng đầu.
Bằng cách nào Vũ Trụ có được một kho nhiệt năng lớn như vậy? Nhiệt năng quyết định tất cả:
- Nhiệt năng quyết định sự “tán nhỏ” kết tụ, rồi lại phân rã để tạo thành các vì sao, Mặt Trời và các Hành Tinh,...
- Nhiệt năng quyết định đến sự tạo nên khối lượng, từ trường, tốc độ, quỹ đạo, giãn nở hay hủy diệt của các thành viên trong Vũ Trụ.
- Nhiệt năng cũng là yếu tố tạo ra các vật liệu khác nhau: ở những điều kiện nhiệt độ, áp suất khác nhau cho ta những vật chất có cấu trúc khác nhau. Vật chất chuyển từ thể khí nóng sang thể lỏng, rồi đến thể rắn là một quá trình - đó là tiến độ lùi của nhiệt.
Giữa sao và Hành Tinh không có hố ngăn cách trong bước tạo thành, chỉ là quá trình biến đổi của vật chất mà thôi. Có khác nhau từ hoa đến quả của cùng một cây. Vật liệu kiến tạo chỉ ở cùng một nguồn, cũng như gốc đại Thiên Hà với các Hành Tinh vậy.
Ngoài giả thuyết này, chúng tôi xin được giải thích thêm các hiện tượng bí ẩn trong thế giới tự nhiên, kể cả thời kỳ bí ẩn nhất của lịch sử địa chất: Kỷ Pecmi - Triát trên Hành Tinh chúng ta.
Kể lại “cuộc đời” Vũ Trụ theo ý niệm của mình với mọi người là một điều rất lý thú, câu chuyện đó đúng sai như thế nào, xin dành riêng để ngành khoa học thực nghiệm phán quyết.
Tôi nêu ra giả thuyết này với sự tham gia cộng sự của ông Nguyễn Xuân Sít - Giám đốc Đài khí tượng Bắc Trung Bộ và bà Lê Thị Hiệp, hội viên Hội Thiên văn Vũ Trụ Việt Nam.
Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước.
Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa và những Người đỡ đầu cho công trình khoa học này.
Đã tạo điều kiện cho tác giả được báo cáo, hội thảo khoa học 4 lần tại cơ quan khoa học lớn của Nhà nước.
Chúng tôi rất mong được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và độc giả.


LÊ ĐÌNH QUỲ
Lần sửa cuối: 25 Tháng 10 2013 21:31 bởi Lê ĐìnhQuỳ.

└(≣) Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ ! 25 Tháng 10 2013 21:50 #2710

  • Lê ĐìnhQuỳ
  • không trực tuyến
  • Meteorite
  • Tổng số bài viết: 14
1. GIẢ THUYẾT MỚI
VỀ SỰ HÌNH THÀNH HỆ MẶT TRỜI


Giả thuyết này được trích từ công trình: “Mật mã Vũ Trụ - giả thuyết mới về sự hình thành đại Thiên Hà”.
“Giả thuyết về sự hình thành Vũ Trụ “ đã được Hội thảo khoa học lần thứ nhất vào ngày 13 tháng 11 năm 1984 tại Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (39 Trần Hưng Đạo). Với sự giúp đỡ của đồng chí Đặng Hữu - Nguyên Chủ tịch Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước tổ chức cho báo cáo. Chủ trì hội thảo: Tiến sĩ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Ngọc Sinh.
Người phản biện thứ nhất, Giáo sư - Tiến sĩ Thiên văn Phạm Viết Trinh.
Người phản biện thứ hai, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, nhà Địa vật lý Hoàng Thiếu Sơn.
Người phản biện thứ ba, Nguyễn Mạnh Đức - Giám đốc Trung tâm Vật lý Địa cầu và Thiên văn.
Hội thảo lần thứ hai:
Công trình được báo cáo tại Viện nghiên cứu khí tượng “Thái Bình Dương” do Tiến sĩ Toán Nguyễn Đình Quang chủ trì - 1985.
Lần thứ ba:
Công trình được báo cáo tại Cung văn hoá Hữu nghị Việt Xô năm 1987.
Lần thứ tư:
Tác giả báo cáo tại Hội nghị Vật lý toàn quốc lần thứ năm trước Tiểu ban Thiên văn và Vật lý Địa cầu (03/2001).
Sau khi chúng tôi đã nghiên cứu các giả thuyết nói về: “ Nguồn gốc hệ Mặt Trời ” của Laplase, Otomit và thuyết “Từ thuỷ động” của Hôin, chúng tôi dựng mô hình giả thuyết này theo hướng mới đó là: “lịch trình các vụ nổ” theo hướng phân rã chứ không phải tích tụ.
Để xây dựng giả thuyết mới này chúng tôi đã hệ thống 12 điều bí ẩn của hệ Mặt Trời cần tìm ra một nguyên lý mới để giải quyết. Mười hai điều bí ẩn của hệ Mặt Trời được đặt ra như sau:
1. Nguồn gốc, khối lượng và nhiệt lượng của Mặt Trời từ đâu sinh ra?
2. Vật chất và nguồn nhiệt lượng tạo nên 9 Hành Tinh lớn và hệ Tiểu Tinh, các vệ tinh có nguồn gốc từ đâu?
3. Điều kiện vật lý bí ẩn nào đã tạo nên sự sắp xếp kỳ lạ của các Hành Tinh thuộc hệ Mặt Trời? Những Hành Tinh lớn có tỷ trọng nhẹ lại nằm ở vị trí xa Mặt Trời, những Hành Tinh bé có tỷ trọng nặng lại nằm ở gần Mặt Trời?
4. Tại sao hệ Tiểu Hành Tinh lại được phân bố khoảng cách giữa sao Hỏa và sao Mộc?
5. Mômen động lượng của các Hành Tinh lấy từ nguồn nào? Tổng Mômen của chúng chiếm 98%, trong khi Mặt Trời chỉ có 2% của hệ?
6. Lực vật lý bí ẩn nào đã tác động lên các Hành Tinh để chúng chuyển động theo cùng một hướng với chiều tự quay của Mặt Trời có chu kỳ chính xác? Và tại sao các quỹ đạo chuyển động đó lại hơi elip mà không tròn?
7. Tại sao các Hành Tinh lại chuyển động trên cùng một mặt phẳng, trùng với xích đạo Mặt Trời? Trục tự quay của các Hành Tinh tại sao lại có độ nghiêng khác nhau so với mặt phẳng hoàng đạo?
8. Trong hệ Mặt Trời theo quan sát thiên văn thì sao Kim và sao Thiên Vương có chiều tự quay ngược so với chiều quay của các Hành Tinh khác. Tại sao?
9. Tại sao vật chất cấu tạo nên các Hành Tinh có tỷ trọng khác nhau? Tuổi khác nhau? Tốc độ tự quay khác nhau? Từ trường của Mặt Trời và các Hành Tinh do đâu mà có? Lực hấp dẫn giữa Mặt Trời và các Hành Tinh còn phụ thuộc vào một đại lượng vật lý bí ẩn nào?
10. Nguồn gốc các vệ tinh? Có Hành Tinh nhiều vệ tinh như sao Mộc lại có những Hành Tinh không có vệ tinh?
11. Nguồn gốc sao Chổi? Tại sao sao Chổi đi theo quỹ đạo êlíp dẹt và không nằm trên mặt phẳng hoàng đạo?
12. Tại sao trong hệ Mặt Trời, Trái Đất lại có sự sống? Sự sống đó có phải gieo từ Vũ Trụ vào hay không? Hay chính môi trường Trái Đất, Mặt Trời và các Hành Tinh đã tạo ra sự sống?
Trên đây là 12 câu hỏi vô cùng bí ẩn vẫn còn nằm trong “hộp đen”.
Giả thuyết mới này chúng tôi cố gắng tìm một hướng mới để giải quyết từng ẩn số của hệ Mặt Trời. Nắm được nguồn gốc chính xác của Trái Đất thì chúng ta mới nắm được quy luật phát sinh, phát triển và hủy diệt của nó. Qua quy luật đó chúng ta mới bảo vệ đúng đắn về môi trường và sự sống của Trái Đất tồn tại lâu dài hơn nữa.

NGUỒN GỐC MẶT TRỜI

Theo khảo sát thiên văn thế kỷ XX thì Mặt Trời của chúng ta nằm gần ngoài biên đĩa Thiên Hà, hơi lệch về bán cầu Bắc của Thiên Hà. Mặt Trời chuyển động quanh nhân Thiên Hà với vận tốc 250km/s và gần 200 triệu năm đi được một vòng.
Theo nguyên lý của giả thuyết này Mặt Trời của chúng ta được nổ ra từ Thiên Hà nguyên sơ (Thiên Hà gốc lúc chưa có các vì sao) trong những vụ nổ đầu.
Tại sao ta có thể nhận biết điều này? Theo nguyên lý của giả thuyết này vụ nổ đầu bao giờ cũng mạnh nhất và đẩy các thiên thể ra xa nhất. Bán kính quỹ đạo của chúng được xác định bởi sự cân bằng giữa lực văng ra và lực hấp dẫn vào tâm Thiên Hà. Chúng nằm trên điểm cân bằng lực của mặt phẳng xích đạo Thiên Hà và chúng chuyển động cùng hướng với chiều tự quay của nhân Thiên Hà. Mặt Trời có khối lượng nhỏ mà lại nằm ngoài biên đĩa Thiên Hà cho nên có thể liệt nó vào những vụ nổ đầu của Thiên Hà gốc.
Như vậy nguồn gốc khối lượng, năng lượng của Mặt Trời được sinh ra từ Thiên Hà nguyên sơ. Nhiệt lượng và khối lượng của thiên thể này lúc mới ra đời rất cao và lớn, do bức xạ nhiệt vào phông Vũ Trụ. Mặt Trời ngày nay đã co lại rất nhiều về khối lượng và giảm đi về nhiệt lượng nên được gọi là: “chú lùn vàng”. Theo quan điểm của giả thuyết này Mặt Trời vẫn đang tiếp tục chết nhiệt nhưng khối lượng của nó quá lớn nên sự nguội của Mặt Trời vô cùng chậm chạp, tới mức con người không thể đo được sự thay đổi nhiệt độ của nó, bằng nguyên lý Vũ Trụ thì tất cả các vật thể trong Thiên Hà và đại Vũ Trụ đều đi đến chỗ mất năng lượng và chết nhiệt, theo nguyên lý có sinh có diệt.
Giả thuyết này chứng minh: Nguồn năng lượng của Mặt Trời tồn tại lâu dài không phải do phản ứng nhiệt hạt nhân cung cấp, vì muốn có phản ứng nhiệt hạt nhân thì phải có nhiệt độ ban đầu vô cùng to lớn hàng vài chục triệu độ Kenvin. Nếu như vậy ta đặt vấn đề ngược lại thì nhiệt độ ban đầu trong nhân Mặt Trời để tạo nên các phản ứng nhiệt hạch lấy từ đâu? Ta biết rằng muốn có phản ứng tổng hợp nhiệt hạt nhân thì nhiệt độ ban đầu để tổng hợp bao giờ cũng phải lớn hơn rất nhiều. Giả thuyết mới này công nhận ngày nay trên Mặt Trời đang xảy ra phản ứng tổng hợp nhiệt hạch vì nhân của nó nhiệt độ rất cao vào khoảng gần 20 triệu độ. Giả thuyết này đề xuất một phản ứng thứ hai theo chu kỳ 11 năm xảy ra một lần trong nhân Mặt Trời là phản ứng phân hạch hạt nhân, cứ 4 năm lại ngừng hoạt động.



Một dạng Thiên Hà hình xoắn ốc cấu trúc tương tự Thiên Hà
có những đường trắng đục của chúng ta


NGUỒN GỐC CÁC HÀNH TINH


Các Hành Tinh thuộc hệ Mặt Trời có cùng một nguồn gốc về vật chất và năng lượng từ Mặt Trời.
Sau thời gian dài Mặt Trời bức xạ nhiệt, vỏ khí Mặt Trời co lại làm mất cân bằng áp suất giữa vỏ và nhân gây ra vụ nổ lớn. Ngày nay theo chu kỳ 11 năm điều đó vẫn xảy ra trên bề mặt Mặt Trời tạo thành các vết đen, người Trung Hoa đặt tên cho Mặt Trời là "kim ô" là vì vậy (kim ô là con quạ vàng).
Sau khi nghiên cứu sự phân bố kỳ lạ các Hành Tinh, tôi phát hiện ra một số nhóm Hành Tinh có cùng một quy luật phân bố theo nguyên lý từ to đến nhỏ dần.
Có 3 nhóm Hành Tinh như vậy:
- Nhóm thứ nhất cách xa Mặt Trời nhất bao gồm: lớn nhất là sao Mộc rồi đến sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương và nhỏ nhất là sao Diêm Vương.
- Nhóm thứ hai bao gồm: Trái Đất lớn nhất (kể cả vệ tinh Mặt Trăng), rồi đến sao Kim, sao Hỏa và nhỏ nhất là hệ Tiểu Hành Tinh.
- Nhóm thứ ba đơn độc chỉ có một sao đó là sao Thủy gần Mặt Trời nhất. Qua sự phân bố như vậy ta rút ra được “lịch trình các vụ nổ”: Mặt Trời có ba vụ nổ lớn sinh được chín Hành Tinh. Nguyên lý nổ như sau: Trong cùng một vụ nổ các Hành Tinh có khối lượng lớn ở gần Mặt Trời, khối lượng nhỏ văng xa, phụ thuộc vào lực đẩy và lực hấp dẫn cân bằng nhau, chúng xác định bán kính quỹ đạo.
Vụ nổ thứ nhất:
Mặt Trời nổ lần đầu là mãnh liệt nhất vì lúc đó khối lượng và nhiệt lượng vô cùng lớn.

Sơ đồ các Hành Tinh của hệ Mặt Trời


Vì vậy vụ nổ thứ nhất sinh ra 5 Hành Tinh lớn theo thứ tự:
1. Sao Mộc có khối lượng lớn nhất nên ở gần Mặt Trời hơn, bán kính xích đạo 71.492km, thời gian quay xung quanh Mặt Trời hết 4.332 ngày. Khối lượng so với Trái Đất bằng 318 lần, khối lượng riêng1,3, gia tốc trọng trường 25m/s2, chu kỳ quay 9h55, có 16 vệ tinh, theo tính toán của giả thuyết này nhiệt độ trong nhân vào khoảng 15.671270C. Từ trường rất mạnh.
2. Sao Thổ nhỏ hơn sao Mộc phân bố xa Mặt Trời hơn bán kính xích đạo 60.268km, thời gian quay xung quanh Mặt Trời hết 10.759 ngày. Khối lượng so với Trái Đất bằng 95 lần, khối lượng riêng 0,7, gia tốc trọng trường 11m/s2, chu kỳ quay 10h39/22,4s, có 12 vệ tinh, theo tính toán của giả thuyết này nhiệt độ trong nhân vào khoảng 3.98430C.
3. Sao Thiên Vương lại xa Mặt Trời hơn nữa bán kính xích đạo 25.559km, thời gian quay xung quanh Mặt Trời hết 30.685 ngày. Khối lượng so với Trái Đất bằng 15 lần, khối lượng riêng 1,6, gia tốc trọng trường 9,5m/s2, chu kỳ quay 17h24, có 5 vệ tinh, theo tính toán của giả thuyết này nhiệt độ trong nhân vào khoảng 80410C.
4. Sao Hải Vương lại xa Mặt Trời hơn nữa bán kính xích đạo 24.760km, thời gian quay xung quanh Mặt Trời hết 60.188 ngày. Khối lượng so với Trái Đất bằng 17 lần, khối lượng riêng 1,7, gia tốc trọng trường 11,5m/s2, chu kỳ quay 15h, có 2 vệ tinh theo tính toán của giả thuyết này nhiệt độ trong nhân vào khoảng 91100C.
5. Sao Diêm Vương ở ngoài cùng biên đĩa của hệ, bán kính xích đạo 1123km, thời gian quay xung quanh Mặt Trời hết 90.700 ngày, chu kỳ tự quay 6.4 ngày, theo tính toán của giả thuyết này nhiệt độ trong nhân vào khoảng 5930C. Có từ trường nhưng yếu nhất.
Trong vụ nổ thứ nhất sinh ra một lúc 5 Hành Tinh lớn, có một điều kỳ lạ và thú vị là sao Thiên Vương có khối lượng nhỏ lẽ ra phải nằm ngoài sao Hải Vương mới đúng quy luật về nguyên lý nổ nhưng tại sao sao Thiên Vương lại nằm trong sao Hải Vương và lại tự quay ngược trục so với chiều quay của 4 Hành Tinh còn lại. Điều bí ẩn đó được đưa ra từ một nguyên lý mới về vụ nổ trong nhân Mặt Trời. Ngày nay nó vẫn xảy ra đúng như vậy.
Bán cầu Bắc của Mặt Trời bao giờ cũng nổ nhiều hơn. Xét về cấu trúc Mặt Trời do sự tự quay quanh trục, các dòng khí trong nhân tạo thành 2 vùng điện tích ở 2 bán cầu khác nhau. Bán cầu Bắc có điện tích Ion dương. Bán cầu Nam có điện Ion âm vì có sự phân bố điện tích như vậy nên Mặt Trời mói có từ trường như một khối nam châm khổng lồ. Để giải thích sự tự quay ngược trục của sao Thiên Vương giả thuyết này lý giải như sau: Vụ nổ đầu của Mặt Trời xảy ra ở bán cầu thuộc dương, một khối lượng 4 Hành Tinh lớn được tung ra không gian bao gồm: sao Mộc, sao Thổ, sao Hải Vương, sao Diêm Vương, phản lực nổ xuyên qua nhân Mặt Trời đẩy một khối lượng vật chất Ion âm ở bán cầu Nam tạo thành sao Thiên Vương, vật chất cấu tạo nên sao này chủ yếu là Ion - cho nên có chiều tự quay ngược trục so với các Hành Tinh thuộc dương quay thuận. Sao Thiên Vương nằm gần Mặt Trời hơn so với sao Hải Vương vì phản lực nổ qua nhân Mặt Trời đã bị cản nên bán kính quỹ đạo của sao Thiên Vương gần hơn. Sau vụ nổ thứ nhất các Hành Tinh chuyển động quanh Mặt Trời do lực hấp dẫn và chiều tự quay của Mặt Trời tác động lên các Hành Tinh nên chúng chuyển động có cùng một hướng với chiều tự quay của Mặt Trời.[/size]


So sánh kích thước các Hành Tinh với Mặt Trời


[size=4][left]Sau một thời gian không lâu các khối khí tạo nên các Hành Tinh được chuyển về mặt phẳng xích đạo từ của Mặt Trời nên ngày nay quan sát thấy các Hành Tinh nằm trên cùng một mặt phẳng trùng với xích đạo Mặt Trời. Điều bí ẩn thứ 7 này được giải thích như sau:
Nguyên lý từ trường: Từ trường là lực hút giữa hai vùng điện tích thuộc âm và thuộc dương ở hai đầu nam châm móc nối với nhau tạo thành các đường sức khép kín, mặt phẳng xích đạo từ có lực triệt tiêu bằng không và trung hoà lực điện, hay còn gọi là mặt phẳng xích đạo từ cân bằng lực.
Khác với vật lý cổ điển định nghĩa từ trường: Từ trường là lực ra Bắc vào Nam nếu như vậy thì không có mặt phẳng cân bằng lực. Không thể giải thích được các hiện tượng tại sao các Hành Tinh lại nằm trên mặt phẳng với xích đạo Mặt Trời mà chuyển động, hay giải thích về hiện tượng vành đai Sao Thổ như chiếc đĩa dẹt phẳng, cũng như sự chuyển động của quỹ đạo Mặt Trăng vuông góc với trục từ Trái Đất, không chuyển động vuông góc với trục địa lý. Khi chưa nổ, Mặt Trời có 100% mômen động lượng, sau vụ nổ thứ nhất, mômen động lượng giảm vì đã truyền cho các Hành Tinh.


Vụ nổ thứ hai:
Sau một thời gian Mặt Trời bức xạ nhiệt làm mất cân bằng áp suất giữa vỏ khí Mặt Trời với nhân vì vậy lại sinh ra vụ nổ. Vụ nổ này yếu hơn vì sau vụ nổ thứ nhất khối lượng, nhiệt lượng và mômen động lượng đã giảm đi rất nhiều, chỉ sinh ra được 4 loại có khối lượng nhỏ và bán kính quỹ đạo gần Mặt Trời hơn so với vụ nổ đầu. Trong vụ nổ này cũng sắp xếp đúng quy luật: các Hành Tinh từ lớn đến nhỏ dần và từ gần đến xa. Vụ nổ cũng xảy ra ở bán cầu Bắc Mặt Trời như vụ nổ đầu, và sinh ra được 3 loại phân bố như sau:
1. Trái Đất (kể cả khối lượng Mặt Trăng ngày nay) có khối lượng lớn nên ở gần Mặt Trời nhất, bán kính xích đạo là 6378km, khối lượng so với Trái Đất đơn vị là 1, khối lượng riêng 5,5; gia tốc trọng trường 9,8/s2, chu kỳ tự quay hết 24h, chu kỳ chuyển động quanh Mặt Trời 365,25 ngày, số vệ tinh 1 (Mặt Trăng), nhiệt độ trung bình trong nhân 37500C.
2. Sao Hỏa có khối lượng nhỏ hơn Trái Đất nên văng ra xa hơn, bán kính xích đạo là 3397km, khối lượng so với Trái Đất đơn vị là 0,11, khối lượng riêng 4; gia tốc độ trọng trường 3,76m/s2, chu kỳ tự quay hết 24h37' chu kỳ chuyển động quanh Mặt Trời 687 ngày, số vệ tinh nhỏ (Phobốt và Đêmốt), nhiệt độ trung bình trong nhân 35450C.
3. Hệ Tiểu Hành Tinh nhỏ nhất cho nên văng ra ngoài cùng, vì vậy nên hệ Tiểu Hành Tinh nằm giữa sao Hỏa và sao Mộc.
Vụ nổ xảy ra ở bán cầu Bắc, Mặt Trời đẩy ra được 3 loại trên, phản lực nổ xuyên qua tâm Mặt Trời đẩy ở bán cầu Nam thuộc Ion âm được một khối lượng gần bằng Trái Đất đó là sao Kim, sự ra đời của sao Kim và sao Thiên Vương có cùng một quy luật nên sao Kim cũng quay ngược trục. Sao Kim có bán kính xích đạo là 6051km, khối lượng so với Trái Đất đơn vị là 0,82, khối lượng 5,2; gia tốc trọng trường 8,87m/s2, chu kỳ tự quay hết 243 ngày, chu kỳ chuyển động quanh Mặt Trời 224 ngày, nhiệt độ trung bình trong nhân của sao Kim theo tính toán của giả thuyết chỉ còn 3860C, vì lý do như vậy sao Kim có khối lượng gần bằng Trái Đất mà lại tự quay rất chậm, sao Kim thuộc âm lạnh nên nhiệt độ giải phóng nhanh, chết trước Trái Đất và không có vệ tinh vì lực nổ yếu.

Vụ nổ thứ ba:
Sau hai vụ nổ của Mặt Trời Khối lượng, nhiệt lượng và mômen động lượng của Mặt Trời truyền cho các Hành Tinh đã giảm đi quá nhiều, nên vụ nổ thứ ba là yếu nhất, chỉ tạo được một sao nhỏ nhất là sao Thủy. Vì vậy sao Thủy ở gần Mặt Trời nhất. Nó là “đứa con út” của hệ Mặt Trời. Sau 3 vụ nổ cung cấp 98% mômen động lượng cho các Hành Tinh, Mặt Trời chỉ còn lại 2%. Khi đã cân bằng mômen động lượng Mặt Trời không sinh ra Hành Tinh nào nữa.
Kết luận, sau ba vụ nổ Mặt Trời đã sinh ra được 9 Hành Tinh lớn trong đó có 7 Hành Tinh thuộc dương và 2 Hành Tinh thuộc âm. Do lịch trình nổ như vậy cho nên các Hành Tinh thuộc Hệ Mặt Trời có sự sắp xếp kỳ lạ đúng theo qui tắc của dãy Bode. Khối lượng và nhiệt lượng của các Hành Tinh được lấy từ Mặt Trời.
Các Hành Tinh lúc mới ra đời là siêu nhiệt nó cũng là các “ngôi sao bé”, sau hàng chục tỷ năm bức xạ nhiệt chúng co lại. Vật chất chuyển từ trạng thái khí nóng đến thể lỏng và ngày nay đã chuyển sang trạng thái vật chất rắn như Trái Đất chúng ta. Đó là quy trình vật lý của vật chất. Theo các nhà bác học tính toán tuổi của Trái Đất vào cỡ hơn 4,6 tỷ năm. Quan điểm của giả thuyết mới này tuổi của Trái Đất phải hơn mười tỷ năm vì 4,6 tỷ năm đo được đó mới và tuổi của vỏ Trái Đất. Tuổi Trái Đất vào cỡ 13,6 tỷ năm.
Tỷ trọng của các Hành Tinh nặng nhẹ khác nhau nó phụ thuộc vào nhiệt độ và khối lượng của chúng. Ví dụ các Hành Tinh lớn như: sao Mộc - sao Thổ - sao Thiên Vương - sao Hải Vương do nhiệt độ cao vật chất kết tụ ở trạng thái khí nên tỷ trọng nhẹ, còn các vật chất ở Trái Đất - sao Kim - sao Hỏa có tỷ trọng nặng là do nhiệt năng đã tỏa ra gần hết, dưới áp suất lớn và nhiệt độ như vậy nên vật chất tạo ra ở trạng thái rắn, nên có tỷ trọng nặng. Các Hành Tinh tự quay quanh trục bằng nội lực đó là do tổng mômen quay của các chất trong nhân nóng tạo ra, thời gian tự quay chuẩn xác, tương quan với khối lượng của chúng. Còn trục tự quay có độ nghiêng khác nhau là do sự phân bố trên vỏ của các Hành Tinh không đều. Từ trường của các Hành Tinh có được là nhờ sự quay của các dòng Ion trong nhân tạo ra sự phân bố điện tích giữa hai cực kể cả Mặt Trời của chúng ta. Khác với quan điểm của các nhà khoa học cho rằng: Từ trường Trái Đất có được là do mô hình Stator và Rotor (nhân lỏng quay quanh vỏ cứng).
Hiện tượng các Hành Tinh chuyển động theo quỹ đạo êlíp được giải thích như sau: Các Hành Tinh chuyển động quanh Mặt Trời, trong khi đó tâm là Mặt Trời cũng đang di chuyển với tốc độ 250km/s, cho nên chúng kéo theo sự chuyển động của các Hành Tinh theo hình êlíp. Giả sử Mặt Trời là tâm không chuyển động theo quỹ đạo quanh Thiên Hà mà tự quay tại chỗ thì dứt khoát sự chuyển động của các Hành Tinh phải theo quy đạo tròn. Vì vậy nên có 2 tâm sai quỹ đạo.
Điều bí ẩn lực hấp dẫn của Mặt Trời với các Hành Tinh nếu tính theo định luật của Newton thì Trái Đất đã văng đi rất xa do lực văng li tâm lớn hơn lực hướng tâm. Vậy điều bí ẩn nằm ở đâu? Theo giả thuyết này lực hấp dẫn của khối lượng này với khối lượng kia còn phụ thuộc vào một đại lượng vật lý thứ ba đó là: Nhiệt lượng.
Nhiệt lượng trong khối lượng đó tỷ lệ thuận với lực hấp dẫn, có thể suy ra để bổ sung vào công thức lực hấp dẫn:
F = GToM tom
r2
F: Lực hấp dẫn;
G: Hằng số hấp dẫn;
T0: Nhiệt độ trong nhân thiên thể lớn;
t: nhiệt độ trong nhân thiên thể nhỏ;
M: Khối lượng của thiên thể lớn;
m: Khối lượng của thiên thể nhỏ;
r: Khoảng cách giữa các thiên thể
Như vậy lực hấp dẫn giữa hai vật thể phụ thuộc vào 3 đại lượng vật lý: Khối lượng - Nhiệt lượng - Khoảng cách.
Áp dụng công thức này vào hệ Mặt Trời thì lực hấp dẫn sẽ vô cùng lớn. Vì vậy Mặt Trời mới là tâm quay và giữ được sự chuyển động của các Hành Tinh không thoát khỏi nó.

NGUỒN GỐC CÁC VỆ TINH

Cũng theo nguyên lý chung của Vũ Trụ các Hành Tinh lúc mới ra đời là siêu nhiệt nên cũng bức xạ nhiệt và co về thể tích nổ sinh ra các vệ tinh. Vì sao Mộc có khối lượng lớn và nhiệt độ cao nên nổ sinh ra được 16 vệ tinh, sao thổ nhỏ hơn được 12 vệ tinh, sao Thiên Vương - 5 vệ tinh, sao Hải Vương - 2 vệ tinh, Trái Đất - 1 vệ tinh, sao Hỏa - 2 vệ tinh nhỏ, còn sao Kim vì thuộc âm nên sức nổ kém không tạo được vệ tinh nào, sao Thủy khối lượng bé sức nổ kém cũng không tạo được vệ tinh là vì vậy.
Nay các vệ tinh của các sao có khối lượng nhỏ nên đã nguội trước ví như Mặt Trăng của chúng ta đã nguội hẳn, trên bề mặt của Mặt Trăng và các vệ tinh khác còn để lại rất nhiều dấu tích của miệng núi lửa, chứng tỏ Mặt Trăng và các vệ tinh được tạo ra bởi một khối cầu khí nóng, đó là một phần vật chất của Trái Đất cho nên tuổi của Mặt Trăng trẻ hơn Trái Đất, vật chất trên Mặt Trăng có tỷ trọng nhẹ là vì khối lượng của Mặt Trăng nhỏ áp suất kém không tạo ra những vật chất ở trạng thái nặng như sắt ở Trái Đất. Theo quan điểm của giả thuyết này Mặt Trăng không còn nội lực để tự quay quanh trục của mình mà ngày nay phần nặng nhất của Mặt Trăng rơi vào trọng lực của Trái Đất và do lực hấp dẫn của Trái Đất và tự quay quanh trục tạo ra sự chuyển động của Mặt Trăng theo chu kỳ 1 tháng được 1 vòng. Vì lý do như vậy cho nên chúng ta chỉ thấy được một mặt của Mặt Trăng không bao giờ thấy phía sau của Mặt Trăng.
Khác với quan điểm của các nhà bác học cho rằng: Mặt Trăng tự quay trục một thời gian bằng thời gian quay xung quanh Trái Đất gần 1 tháng nên chúng ta không nhìn thấy phía sau của Mặt Trăng. Khảo sát ngày nay thấy rằng phần chúng ta nhìn thấy có độ cao hơn phía sau Mặt Trăng 3km và có nhiều vật liệu nặng cho nên mỗi khi con tàu Vũ Trụ đi qua bề mặt này có sự chếnh choáng. Cũng nguyên nhân vật lý như vậy ta có thể giải thích được hiện tượng: Mỗi khi sao Kim tới gần Trái Đất thì chúng ta chỉ thấy được một mặt của sao Kim, sau khi rời xa Trái Đất thì mới thấy sao Kim chuyển động tự quay. Vì nguyên lý lực tự quay không thẳng sức hút Trái Đất thì phân nặng nhất của sao Kim rơi về sức hút Trái Đất.
NGUỒN GỐC SAO CHỔI
Sao Chổi là hiện tượng bí ẩn nhất trong hệ Mặt Trời. Theo quan điểm của các nhà khoa học thì sao Chổi được tạo nên bởi sự tích tụ các bụi khí lạnh. Còn giả thuyết này giải thích hiện tượng sao Chổi như sau:
Sao Chổi là sự chết của các vệ tinh. Khi vệ tinh đã chết nhiệt lực hấp dẫn của Hành Tinh mẹ không đủ ràng buộc trong quỹ đạo của nó thì nó sẽ bị rơi vào sức hút của Mặt Trời tạo thành hiện tượng sao Chổi. Vì khối lượng quá bé, lực hấp dẫn kém nên nó không nằm trên mặt phẳng xích đạo Mặt Trời mà đuổi theo Mặt Trời, theo quỹ đạo êlíp dẹt cho tới lúc lực Mặt Trời không giữ được nó nữa thì nó sẽ rơi vào không gian Vũ Trụ, không quay về nữa. Ví như Mặt Trăng của chúng ta sau nhiều năm lực hấp dẫn kém dần đối với Trái Đất, nó cũng bị rơi vào Mặt Trời, tạo thành sao Chổi. Mỗi khi sao Chổi tiến gần đến khí quyền Mặt Trời bị ma sát lớn bởi tốc độ quá nhanh, và do Mặt Trời đốt nóng quá cao nên sao Chổi bốc cháy tạo thành các đuôi bụi khí giống như hiện tượng thiên thạch rơi vào khí quyển Trái Đất ma sát tạo thành đuôi cháy sáng.

Sao chổi HALÂY

TẠI SAO TRONG HỆ MẶT TRỜI
TRÁI ĐẤT LẠI CÓ SỰ SỐNG ?


Theo giả thuyết này chỉ Trái Đất của chúng ta mới tồn tại sự sống bởi các yếu tố sau:
Khoảng cách từ Mặt Trời đến Trái Đất trung bình 150 triệu km, ở khoảng cách đó nhiệt độ trên bề mặt Trái Đất trước kia trung bình từ 40-500C nên nước ở trạng thái lỏng không đóng băng, cũng không bị bốc hơi. Sao Kim và sao Hỏa ở gần chúng ta cũng không có điều kiện như vậy. Sao Kim cách Mặt Trời vào khoảng100 triệu km, trên bề mặt sao Kim có nhiệt độ 5000C, nước không thể ở trạng thái lỏng được mà ở trạng thái liên tục bốc hơi. Vì vậy quan sát sao Kim có hiện tượng “mưa treo”. Cho nên không thể có sự sống được. Sao Hỏa cách Mặt Trời hơn 200 triệu km, điều kiện trên bề mặt lại rất lạnh giá, nước ở trạng thái băng nên cũng không có sự sống. Đó mới nói tới một điều kiện cần thiết nhất của sự sống là nước, chưa nói đến những dữ kiện cần thiết cho điều kiện tạo nên sự sống nữa: đó là khối lượng của thiên thể có gia tốc trọng trường trung bình, áp suất khí quyển không cao, có khối khí quyển bao bọc dầy đặc như ở Trái Đất. Có một vệ tinh gây nên áp lực lạnh như Mặt Trăng để tạo ra nước, v.v... Giả thuyết này khẳng định sự sống ở Trái Đất là do chính điều kiện môi trường của Trái Đất và Mặt Trời tạo ra chứ không phải vật chất sống được gieo từ Vũ Trụ vào Trái Đất. Vì vậy chúng ta nên bảo vệ môi trường của Trái Đất tức là chúng ta gia tăng tuổi thọ cho nó, còn trong không gian Vũ Trụ có vô số Trái Đất như chúng ta và cũng xuất hiện các sự sống theo quy luật như vậy, nhưng khoảng cách từ các Thiên Hà rất xa nên chúng ta khó có thể liên hệ được. Đặc biệt chúng ta không nên khai thác địa nhiệt (sức nóng trong nhân Trái Đất) để tạo ra điện năng, vì sức nóng trong nhân Trái Đất là yếu tố quan trọng số một của tuổi thọ Trái Đất. Khi nhiệt năng giảm Trái Đất sẽ quay chậm dần khí quyển loãng ra sự sống khó mà phát triển. Khí hậu thay đổi sự sống sẽ bị hủy diệt.
Lần sửa cuối: 25 Tháng 10 2013 22:06 bởi Lê ĐìnhQuỳ.

└(≣) Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ ! 27 Tháng 10 2013 18:37 #2713

  • Lê ĐìnhQuỳ
  • không trực tuyến
  • Meteorite
  • Tổng số bài viết: 14
1. CẤU TRÚC CỦA MẶT TRỜI
VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG KỲ LẠ CỦA NÓ


Dựa trên sự kiện nổ các siêu sao trẻ sinh ra sao đôi: 1 sao Nơton vật chất chủ yếu là những hoạt Proton, Nơtron còn một sao nữa là sao Sao bình thường.
Dựa vào sự biểu hiện chu kỳ hoạt động của Mặt Trời xuất hiện các nhóm vết đen có từ lực rất mạnh, chu kỳ 11 năm một lần.
Dựa vào kết cấu của các nguyên tố - bao gồm hạt nhân trong cùng: Prôton và Nơtron bên ngoài là các vòng điện tử và ngoài cùng là vỏ hạt nhân (lưới điện tử phía ngoài cùng).
Dựa trên mã di truyền vào thực - động vật trên Trái Đất kết cấu đều chia làm ba phần cơ bản.
Dựa trên đặc tính vật lý khi quay ly tâm thì vật chất nặng hội tụ vào trong tâm các vật liệu nhẹ phân bố ra ngoài.
Dựa vào những đặc tính vật lý của vật chất như đã nêu trên để xây dựng mô hình cấu trúc của Mặt Trời.
Kết cấu của Mặt Trời cũng chia làm ba phần cơ bản:
1- Vỏ Mặt Trời là lớp khí bao bọc ngoài cùng theo dạng cầu tròn gọi là sắc cầu.
2- Sau lớp vỏ Mặt Trời là phần hoạt động của phản ứng tổng hợp nhiệt hạt nhân là phần đối lưu các chất khí tung ra ngoài và chìm sâu vào trong, lớp này gọi là quang cầu.
3- Nhân Mặt Trời: Nhân Mặt Trời được cấu tạo bởi các vật liệu nặng chủ yếu là các hạt nhân nguyên tử bao gồm prôton và nơtron.




VỎ MẶT TRỜI


Vỏ Mặt Trời tức là sắc cầu được cấu trúc bằng những chất khí Heli và các chất khí khác có mật độ cao nhưng nhiệt độ lại thấp vào cỡ trên 5500oC - 6000oC. Hơn mười tỷ năm lớp vỏ này đã co lại như bây giờ. Lớp vỏ này tạo cho Mặt Trời có một hình tròn ổn định bởi lớp nhân bên trong có sức hút rất mạnh gây áp lực đồng đều lên bề mặt của lớp vỏ, cho nên giữa sự khuyếch tán của chất khí trong nhân tung ra bởi các phản ứng tổng hợp, cân bằng với sức hút. Lớp vật chất này ổn định ở dạng cầu là vì vậy. Tuy các vụ nổ rất mạnh nhưng lớp vỏ đó lại được hình thành lại ngay, không bị phá vỡ về cấu trúc.
Mặt Trời giải phóng một khối lượng vật chất đáng kể bằng phản ứng nhiệt hạch, sau mười một năm tới mức tối đa thì làm cho khối lượng vật chất ở quang cầu bị hao hụt, cộng với sự bức xạ nhiệt của Mặt Trời làm cho vỏ khí của Mặt Trời co lại, gây trong nhân Mặt Trời một áp suất cao, các hạt nhân chuyển động rất mạnh, lực đẩy culon của các hạt mang điện tích dương tăng lên, nhân Mặt Trời lại nở ra do nhiệt năng lớn, các hạt chuyển động nhanh, sự va đập của các hạt nhân gây ra phân hạch hạt nhân tạo ra những vụ nổ nguyên tử dây truyền, liên tục giải phóng năng lượng. Trong 4 năm hoạt động, áp suất giữa vỏ và nhân lại cân bằng Mặt Trời trở về trạng thái yên tĩnh.
Đó là quy luật chung của các thiên thể trong Vũ Trụ kể cả Trái Đất của chúng ta nhưng chúng ở mức độ khác nhau vào những thời gian khác nhau, ví như ở Trái Đất đó là hiện tượng núi lửa phun để giải phóng năng lượng cân bằng áp suất giữa vỏ và nhân.
Vỏ Mặt Trời có xu hướng ngày một thu hẹp bán kính, nhiệt độ ngày một thấp hơn cho tới lúc nhân Mặt Trời không tạo ra được các phản ứng nhiệt hạt nhân nữa. Mặt Trời chỉ còn lại bức xạ của một vật đen cho tới lúc nguội hẳn biến thành sao nơtron tức là các hốc đen như chúng ta quan sát ngày nay trong Thiên Hà.

QUANG CẦU


Quang cầu là lớp cầu khí hoạt động đối lưu liên tục để vận chuyển các chất khí nóng từ trong ra ngoài bức xạ nhiệt, rồi lại chìm xuống từ ngoài vào trong. Lớp này chủ yếu hoạt động gây phản ứng tổng hợp nhiệt hạt nhân. Nhiệt độ vào cỡ 9.000oC - 12.000oC. Các xoáy khí đi ra thuộc dương, các xoáy khí đi vào thuộc âm tạo thành những cấu tương trên mặt quang cầu. Mật độ vật chất ở quang cầu vào khoảng 1016 đến 1017 hạt/cm3 (theo tính toán của các nhà bác học). Quang cầu có độ chiếu sáng không đều độ chói giảm dần từ tâm ra ngoài vỏ Mặt Trời. Lớp thứ hai này biểu hiện những hoạt động liên tục của các khối nóng sáng có đường kính vào khoảng 700km, liên tục xuất hiện và biến mất từ 5 đến 10 phút.
Những khối cầu đó được tung ra từ vùng nhân.
Mặt Trời giải phóng năng lượng bằng các phản ứng tổng hợp nhiệt hạt nhân. Đó là những phản ứng tổng hợp Đơteri hay tổng hợp Hydro để tạo thành Heli và giải phóng nhiệt năng. Nó ở trong tình trạng xáo trộn từ nóng sang lạnh, khi đến vỏ Mặt Trời khối nóng đó phải tản ra vận tốc giảm dần, rồi lại hạ xuống dưới lớp vỏ Mặt Trời nên ta thấy Mặt Trời có cấu tương hạt và sáng không đều là vì vậy. Đó là những tài liệu đã quan sát được của kính thiên văn thế kỷ XX.
Quang cầu có đủ 70 chất trong bảng tuần hoàn Mendêlêep như vật chất có ở trong Trái Đất của chúng ta. Nhưng vật chất chủ yếu là Hydro và Heli. Vì hạt nhân Hydro nhẹ được tạo ra ở nhiệt độ cao và phù hợp với nhiệt độ đó, và nó chỉ có một vòng điện tử, còn trong nhân có thể có những cặp hạt Prôton và Nơtron hoặc một Prôton. Nhưng chúng ta không nên kết luận Mặt Trời có cấu trúc chủ yếu toàn bằng Hydro, theo giả thuyết này Hydro chỉ nằm phần bề ngoài của nhân Mặt Trời.

NHÂN MẶT TRỜI


Nhân Mặt Trời chủ yếu là các hạt nhân nguyên tử có mật độ cao. Bao gồm prôton và nơtron không có vòng điện tử kết cấu siêu đặc nhưng vẫn tồn tại ở dạng siêu khí. Khối lượng riêng rất lớn, áp suất rất cao, nhiệt độ vào cỡ 18-20 triệu độ C. Vì vậy nó chỉ tồn tại chủ yếu là hạt nhân nguyên tử. Mặt Trời có cấu trúc trong nhân trương tự như sao nơtron, nhưng khác sao nơtron ở nhiệt độ cao mà thôi.
Nguyên lý về từ trường của Mặt Trời theo quan điểm của giả thuyết này như sau: Khi Mặt Trời ra đời tự xoay quanh trục đã định hướng thì sẽ có sự phân bố về điện tích, phần lớn điện tích Ion dương sẽ dồn về cực Bắc gọi là cực dương của Mặt Trời, cực Nam của Mặt Trời từ xích đạo trở xuống thì điện tích Ion âm chiếm ưu thế hơn. Giữa hai bán cầu có sự cần bằng về lực điện. Do sự phân bố điện tích như vậy Mặt Trời sinh ra từ trường như một nam châm khổng lồ vươn ra ngoài sao Diêm Vương.
Do hai lực hút khác nhau ở hai bán cầu: Một bên lực thuộc tổng điện tích Ion dương, một bên thuộc tổng điện Ion âm móc nối với nhau cho ta một đường sức khép kín và như vậy trên mặt phẳng xích đạo từ trường có lực triệt tiêu bằng không và trung hòa về lực điện. Khác với quan điểm về từ trường cổ điển: Từ trường là dòng lực đi ra cực Bắc vào cực Nam tạo ra cho ta những đường sức khép kín. Quan điểm mới của giả thuyết để nhằm giải thích điều bí ẩn: Tại sao các Hành Tinh lại nằm trên cùng một mặt phẳng chuyển động xung quanh trùng với xích đạo Mặt Trời. Vì các Hành Tinh chuyển động đều nằm trên điểm cân bằng lực của hai đường sức âm và dương.
Như trên đã phân tích nhân Mặt Trời chủ yếu là các hạt nuclon, sau một thời gian bức xạ nhiệt co về thể tích gây áp suất trong nhân tăng lên, nhiệt độ cũng tăng lên do động năng của các hạt lớn lên. Ta biết các hạt đều mang điện tích dương, tức là prôton chúng đẩy nhau theo định luật Culon thế năng tương tác giữa chúng là:



Trong đó: Et là thế năng, C2: tốc độ ánh sáng; Z1 Z2 là nguyên tử số (số Prôton) của hạt nhân 1 và 2.
Muốn thắng thế năng tương tác thì các hạt phải có động năng lớn hơn hoặc ít ra cũng bằng thế năng đó, mà động năng tương đối giữa 2 hạt phụ thuộc vào nhiệt độ T - Eđ = 3KT. Như vậy điều kiện để xảy ra phản ứng nhiệt hạt nhân là:




Eđ: là động năng; Et: là thế năng; 3KT: nhiệt độ tương tác
Vậy phản ứng nhiệt hạt nhân xảy ra phải có nhiệt độ



C2: tốc độ ánh sáng
T : 55.106 Z1 Z2 độ
T : 55.106 độ (đối với các hạt nhân Hydro)
Phản ứng trong nhân Mặt Trời chuyển Hydro thành Heli tức là chuyển 4 hạt nhân Hydro thành một hạt Heli.
Nhưng điều quan trọng cần biết là: Khối lượng của bốn hạt nhân Hydro lớn hơn một hạt Heli, độ hụt khối lượng trong phản ứng này là cơ chế giải phóng năng lượng. Đó là phản ứng tổng hợp nhiệt hạt nhân của Mặt Trời. Còn có thể một phản ứng tổng hợp nhiệt hạt nhân thứ hai đó là tổng hợp hạt Đơteri thành nguyên tố Heli và giải phóng năng lượng. Phản ứng tổng hợp này đang làm cho Mặt Trời ngày một nguội đi. Vì muốn có tổng hợp nhiệt hạt nhân thì nhiệt độ ban đầu bao giờ cũng phải lớn hơn như công thức trên. Điều ta phải quan tâm nguồn năng lượng gốc tiền thân của Mặt Trời do đâu mà có được?
Mặt Trời nóng lâu dài có phải là do phản ứng nhiệt hạt nhân liên tục cung cấp như các giả thuyết đã có hay không? Lúc Mặt Trời ra đời đã mang theo khối lượng và nhiệt lượng và nhiệt lượng từ Thiên Hà gốc của chúng ta rất lớn. Đó là nguồn năng lượng tiền thân của Mặt Trời.
Mặt Trời lúc bấy giờ nóng sáng như một ngôi sao xanh. Nhiệt độ có thể hàng chục ngàn triệu độ Kenvin, như vậy nó đã có một nguồn nhiệt tiền thân lớn hơn ngày nay rất nhiều. Nhưng do bức xạ nhiệt bằng phản ứng tổng hợp nhiệt hạt nhân liên tục kết hợp với bức xạ tự thân hơn mười tỷ năm qua. Mặt Trời đã hao hụt về khối lượng và nhiệt lượng, vì vậy Mặt Trời chỉ còn có khối lượng và nhiệt lượng như ngày nay. Vì ta biết 1 gam hạt nhân Hydro chuyển thành hạt nhân Heli thì năng lượng giải phóng vào khoảng 1012 Jun tính theo công thức của Einstein = m c2(m là khối lượng, c là tốc độ ánh sáng).
Như vậy, ta có thể nhận định rằng: nhiệt năng của Mặt Trời có được đến ngày nay là do Thiên Hà gốc nổ ra như giả thuyết trên. Nhiệt độ đó có nguồn gốc từ gốc đại Thiên Hà nguyên sơ được tạo nên bởi sự phóng điện giữa hai khối khí siêu khổng: Ion Hydro dương với Ion Hydro âm mà tạo thành. Hiện tượng này giống như hiện tượng sét cầu trong khí quyển Trái Đất. Nhiệt độ ban đầu theo giả thuyết của "3 phút đầu tiên” lên tới 15 trăm nghìn triệu độ Kenvin.
Nhiệt độ từ gốc đó đã phân rã ra các tỷ Thiên Hà cho tới Mặt Trời và cả Trái Đất của chúng ta nữa có nguồn gốc như vậy. Theo giả thuyết này Mặt Trời vào cỡ 14 tỷ năm tuổi.

HOẠT ĐỘNG KỲ LẠ CỦA MẶT TRỜI


Mặt Trời hoạt động theo chu kỳ cứ 11 năm lại xảy ra các vụ nổ lớn và kéo dài trong 4 năm đồng thời xuất hiện các vết đen có từ trường rất mạnh như một nam châm khổng lồ, và các vết đen này không xuất hiện ở xích đạo mà chỉ xảy ra từ 5o đến 40o vĩ Bắc của Mặt Trời, Khi xuất hiện các vết đen có sự đối cực: nếu vết đen xuất hiện ở bán cầu Bắc trước thì phía bên kia bán cầu Nam của Mặt Trời lại xuất hiện sau, và ngược lại. Tại sao lại có những hiện tượng đó?



Lý giải như sau:
Sự xuất hiện các vết đen kèm theo các hoạt động dữ dội có chu kỳ 11 năm phụ thuộc các yếu tố bức xạ nội lực của Mặt Trời. Sau 11 năm nguồn năng lượng của Mặt Trời đã tiêu hao đến cực đại, tức là khối lượng lớn vật chất của Mặt Trời đã biến thành nhiệt năng, làm cho thể tích của nó cũng co đến cùng cực, gây cho nhân Mặt Trời một áp suất vô cùng lớn, các hạt nhân chuyển động nhanh, gây vỡ hạt nhân, nổ nguyên tử. Trong những vụ nổ như vậy hạt nơtron cũng bị phân huỷ, tạo thành một prôton - 1 electron và 1 nơtrino âm, sinh ra phóng xạ, tia Gamma, tia Rơnghen,... hoặc những vụ phân hạch giữa proton và nơtron trong nhân, các dòng hạt nơtron tạo thành những dòng xoáy lớn hàng triệu km đường kính từ trong nhân tung ra bề mặt những xoáy đó thuận dương ngược chiều kim đồng hồ. Sau khi bức xạ nhiệt lại chuyển thành những dòng xoáy đi vào thuận kim đồng hồ tạo ra cực âm. Hai dòng xoáy trên đã tạo thành những cặp vết đen từng nhóm như những nam châm khổng lồ nên những năm hoạt động của Mặt Trời sinh ra bão từ và rất nhiều tia phóng xạ độc trong đó có dòng nơtrino năng lượng rất cao và tạo ra các sóng Gamma. Hoạt động sau 4 năm giải phóng năng lượng áp suất giữa vỏ và nhân được cân bằng thì Mặt Trời trở về trạng thái yên tĩnh giống như hiện tượng dưới Trái Đất biểu hiện ở núi lửa phun trào.
Các vụ nổ bao giờ cũng xuất hiện các nhóm vết đen, từ nhỏ đến cực đại rồi lại nhỏ dần. Các sự kiện đồng thời xảy ra bên cạnh nhau: Trường sáng bùng nổ sắc cầu (vỏ Mặt Trời).



Đầu tiên các trường sáng xuất hiện trước, là do phản ứng nổ từ nhân Mặt Trời tung lên quang cầu hiện ra vỏ Mặt Trời, vụ nổ kéo theo vật chất từ nhân Mặt Trời, đó là những dòng hạt nặng mang từ tính rất mạnh những dòng hạt đó là chủ yếu nhạt nơtron các hạt này tuy nhiệt độ rất cao nhưng lại kém phát sáng là vì vậy, cho nên khi quan sát bằng kính viễn vọng các vùng vết đen có màu sẫm tối hơn so với các vùng xung quanh, vì đó là những nhóm hạt nặng. 11 Một số ý kiến của các nhà bác học cho rằng các cặp vết đen đó là dòng hạt Hydro âm (TG).
Tại sao các vết đen lại không xuất hiện ở xích đạo, hay ở hai đầu cực Nam và Bắc của Mặt Trời?
Hiện tượng bí ẩn này ta phải chứng minh bằng lực tự quay của các thiên thể cũng như Mặt Trời, khi một Hành Tinh tự quay quanh trục hay bất cứ một thiên thể nào trong Vũ Trụ thì điện tích được phân làm hai cực: Phần lớn các dòng điện tích Ion dương nằm trên bán cầu Bắc. Ở bán cầu Nam thì dòng điện tích Ion âm lại chiếm ưu thế. Ở hai bán cầu có sự cân bằng nhau về lực điện, sinh ra từ trường tạo thành cực Bắc và cực Nam như khối nam châm. Giữa hai bán cầu âm và dương trên xích đạo của Mặt Trời tạo thành một mặt phẳng xuyên qua tâm Mặt Trời, đó là mặt phẳng triệt tiêu có lực cân bằng, vì vậy khối vật chất nằm từ 0o đến 5o vĩ Bắc hoặc từ 0o đến 5o vĩ Nam, các dòng hạt chuyển động chậm vì bị hãm lực như phân tích trên nên các hạt nhân nguyên tử không bị bắn phá vỡ và không tạo thành các vụ nổ ở vĩ độ này.



Từ 50 đến 400 vĩ Bắc và từ 5o đến 40o vĩ Nam sự chuyển động của các hạt proton và nơtron siêu tốc gây ra vỡ sự liên kết giữa các hạt tạo thành những vụ nổ nguyên tử. Từ vĩ độ 20o đến 40o vĩ Bắc cũng như vĩ Nam, gió Mặt Trời ở hai vùng này là mạnh nhất, vì hoạt động của các dòng hạt ở vĩ độ này rất mạnh, tốc độ đạt tới 750km/s. Còn ở hai đầu cực Bắc và Nam của Mặt Trời từ 400 đến 900 thì lực từ trường lại hút vào, cho nên các dòng hạt ở các vĩ độ đó có xu hướng kéo vào tâm bị hãm, chuyển động chậm nên không gây ra các vụ nổ nguyên tử, vết đen chỉ xảy ra ở chỗ xung yếu nhất trong khoảng từ 5o đến 40o bởi lý do như vậy.
Còn một điều bí ẩn nữa của các hoạt động nhóm vết đen: nếu các nhóm vết đen xuất hiện ở các cực Bắc trước, thì cực Nam ở phía bên kia Mặt Trời xuất hiện sau, và ngược lại nếu xuất hiện các vết đen ở cực Nam trước, thì phía bên kia ở cực Bắc của Mặt Trời lại xuất hiện sau. Tại sao như vậy?
Hiện tượng được lý giải như sau:



Nếu phản ứng hạt nhân bùng nổ ở cực Bắc trước thì nhiên liệu ở vùng nổ tung ra ngoài vỏ trước, có nghĩa là từ tâm nổ đến vỏ Mặt Trời khoảng cách sẽ gần nên xuất hiện trước. Còn phản lực nổ đẩy một khối lượng vật chất xuyên qua nhân Mặt Trời sang phía bên kia của Bán cầu Nam khoảng cách dài hơn nên phải xuất hiện sau. Ngược lại ở Bán cầu Nam cũng xuất hiện vụ nổ trước thì vết đen cũng xuất hiện trước. Cũng nguyên lý như vậy Bán cầu Bắc sẽ xuất hiện sau. Đó là những nguyên lý vật lý xảy ra trong nhân Mặt Trời theo chu kỳ 11 năm hoạt động. 11 Nhân Mặt Trời như cái hộp đen chỉ biết lối ra mà không biết lối vào. Đó là ý kiến của các nhà bác học.
Lần sửa cuối: 27 Tháng 10 2013 19:24 bởi Lê ĐìnhQuỳ.

└(≣) Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ ! 27 Tháng 10 2013 19:28 #2714

  • Lê ĐìnhQuỳ
  • không trực tuyến
  • Meteorite
  • Tổng số bài viết: 14
3. Giả thuyết về nguồn gốc Trái Đất


Quá trình vận động hình thành trái đất, Sự sống độc nhất trong Thiên Hà của chúng ta
Trái Đất được nổ ra từ bán cầu Bắc của Mặt Trời, sinh ra trong vụ nổ thứ hai của Mặt Trời. Trái Đất ra đời cùng với sao Hỏa, sao Kim và hệ Tiểu Hành Tinh (có cùng một tuổi), trục tự quay của Trái Đất thuận dương ngược chiều kim đồng hồ). Khi ra đời, Trái Đất có khối lượng lớn hơn tổng khối lượng của Trái Đất và Mặt Trăng ngày nay (vì khối lượng của Trái Đất và Mặt Trăng đ• mất đi vì bức xạ nhiệt hơn mười ba tỷ năm qua). Trái Đất lúc mới sinh ra, cũng nóng sáng như ngôi sao, có bán kính quỹ đạo ngắn hơn ngày nay - có nghĩa Trái Đất gần Mặt Trời hơn so với ngày nay. Trục quay của Trái Đất song song với trục quay của Mặt Trời, tốc độ tự quay nhanh hơn ngày nay gấp nhiều lần tốc độ quay xung quanh Mặt Trời nhanh hơn, vì lúc đó lực hấp dẫn của Mặt Trời với Trái Đất rất lớn. Điều đó có nghĩa là 1 năm của Trái Đất chỉ vào khoảng 100 ngày. Ngày của Trái Đất vào khoảng 10 giờ. Sau khi ra đời Trái Đất đ• nổ ra được một vệ tinh của mình, Trái Đất bức xạ nhiệt co về thể tích và nổ sinh ra Mặt Trăng đó là vệ tinh độc nhất của Trái Đất.
Chiều tự quay của Mặt Trăng khi còn đang nóng là thuận dương (ngược chiều kim đồng hồ), lúc bấy giờ Mặt Trăng cũng như một Mặt Trời nhỏ và gần Trái Đất và từ trường còn rất mạnh nay Mặt Trăng đ• nguội hẳn, dẫn đến chết từ trường (từ trường đo được bằng 1/1.000 từ trường của Trái Đất), nay từ trường của Mặt Trăng đ• từ hoá vào đất đá của nó từ lâu rồi.
Nó là “đứa con đẻ” của Trái Đất, nên tuổi của nó ít hơn tuổi của Trái Đất.
Trái Đất khi ra đời có nhiệt độ cao, do quay ly tâm nên vật chất của cả khối cầu khí đó theo dạng cầu tròn. khi quay quanh trục các điện tích cũng được phân bố ngay giống quy luật như đ• phân tích trên. Sự phân bố điện tích trên quả cầu khí - Trái Đất trong quá khứ, cũng có sự phân bố các Ion như Mặt Trời, tạo nên từ trường cũng như các thiên thể khác trong Vũ Trụ. Từ trường của bất cứ một Hành Tinh nào cũng phụ thuộc vào khối lượng và Tổng nhiệt lượng của chúng. Cho đến nay nhân Trái Đất chỉ còn có bán kính trên 3.000 km và nhiệt độ vào cỡ trên 4.0000C quay quanh trục hết 24 giờ được một vòng, nếu nguội nhân thì trục tự quay sẽ chậm dần, ngày của Trái Đất sẽ dài hơn. Từ trường của Trái Đất có nguồn gốc như vậy.
Sau một thời gian vào khoảng 9 tỷ năm bức xạ nhiệt, thể tích ngày một co lại, nó chuyển từ trạng thái khí nóng sáng, sang thể lỏng macma, rồi từ thể lỏng chuyển sang thể rắn. Khi mới ra đời quỹ đạo của Trái Đất tương đối tròn vì lực hấp dẫn của nó còn rất mạnh. Ngày nay vì nhiệt độ trong nhân rất yếu lực hấp dẫn sút kém nên đuổi theo Mặt Trời theo quỹ đạo hơi elip.
Khi bề mặt Trái Đất đ• nguội xuống cỡ 2.0000C thì cả quả cầu trong trạng thái lỏng mácma. Lúc bấy giờ liên tục xảy ra các núi lửa phun trào lên bề mặt Hành Tinh của chúng ta. Sau một thời gian dài nhiệt độ lại hạ xuống thấp, lớp mácma trên bề mặt Trái Đất đ• đông lại thành thể rắn. Trong giai đoạn này hiện tượng bùng nổ núi lửa có phần mạnh hơn vì vỏ của Trái Đất đ• bị đông cứng và hiện tượng đó diễn ra trên khắp các bề mặt Hành Tinh. Quá trình của Trái Đất, từ lúc ra đời cho tới khi hình thành được lớp vỏ cứng, Trái Đất đ• liên tục xảy ra các vụ nổ kinh khủng để giải phóng năng lượng, sản phẩm các vụ nổ đó là những tảng thiên thạch, bay xung quanh Trái Đất. Trong giai đoạn Trái Đất ở thể lỏng thì Hydro và Heli kim loại vẫn tồn tại trên lớp vỏ sơ khai của nó, như hiện tượng ở trên các Hành Tinh lớn ngày nay. Vì lúc đó sức hút của Trái Đất còn rất lớn vẫn giữ được hai loại khí nhẹ này. Khi Trái Đất ở trạng thái lỏng do lực quay ly tâm, các vật chất nặng như: sắt, niken, silic, tập trung ngay vào lớp sâu ở gần nhân, còn các vật chất nhẹ nằm ở phía ngoài vỏ, lớp nằm gần nhân ngày nay đ• nguội, dần kết tinh thành lớp vỏ cứng tạo nên những đới đồng tâm, đó là lớp đá huyền vũ, nên giàu chất kim loại như: manhê, sắt, niken...
Giai đoạn này trên Hành Tinh vẫn chưa xuất hiện nước, vì nhiệt độ trên bề mặt và trong nhân còn rất cao. Phải sau nhiều tỷ năm Trái Đất đ• đông cứng được một lớp dầy đáng kể, tạo thành những đới đồng tâm. Xung quanh Trái Đất lúc bấy giờ bầu khí quyển dày đặc các khí độc như: CO2, SO2, nitơ, ozon, mêtan v.v. Đó là di sản của các chất khí trong hoạt động núi lửa của Trái Đất.
Ước tính phải sau 9 tỷ năm Trái Đất đ• tương đối nguội, vỏ đ• dầy tốc độ Vũ Trụ cấp hai, bán kính quỹ đạo ngoài 130 triệu km có điều kiện sinh ra một áp suất tới hạn, biến phân tử khí H2O tạo thành nước ở trạng thái mây khí, tạo nên nhiều trận mưa lớn trên mặt Hành Tinh.
Còn một yếu tố thứ hai nữa để tạo ra nước có thể đó là Mặt Trăng của chúng ta: Vào khoảng sau 7 tỷ năm Mặt Trăng đ• nguội hẳn ra được những áp khí lạnh để làm ngưng tụ hơi nước trong khí quyển rơi xuống địa cầu tạo ra nhiều vụ mưa kéo dài (nó giống hiện tượng tạo ra nước cất).
Qua nhiều triệu năm kéo dài nhiều trận mưa lớn. Trái Đất đ• bao bọc được một khối cầu nước khổng lồ, trong tình trạng nóng bỏng sôi sục. Khí quyển lúc bấy giờ sinh ra liên tục giông b•o, sấm sét. Trong điều kiện quả cầu nước đó những cột núi lửa phun cả nước và mácma từ đại dương lên không gian bị sét đánh vào tạo ra được chất axit Amin và chất Abumin đó là những thành tố hữu cơ đầu tiên của sự sống và ngày một nhiều trong đại dương mênh mông toàn cầu, phải sau nhiều trăm triệu năm nhiệt độ trong nhân Trái Đất đ• hạ xuống, trên vỏ Trái Đất dầy thêm nước khoáng. Trong đại dương ấm áp ở nhiệt độ 400C, và môi trường nước khoáng chưa mặn như ngày nay, kết hợp với các chất trong đại dương, xuất hiện các chất rong, rêu, tảo, vi sinh vật đó là các mầm sống thực vật, các giọt sống nguyên thuỷ cũng bắt đầu xuất hiện. Do nhiệt độ của Mặt Trời còn rất lớn, dưới tác động của tia tử ngoại, các hoá chất trong môi trường đó tạo nên những tế bào sống từ đơn bào đến đa bào và các vi sinh vật bắt đầu xuất hiện và các vi thức vật cũng xuất hiện trong đại dương.
Những điều kiện tiếp theo trong địa vật lý toàn cầu đó là: Nhiều những núi lửa hình thành cao dần, tạo nên nhiều thềm lục địa sơ khai mới. Sự hình thành đó kéo dài cho đến cuối kỷ Cácbon. Theo khảo sát địa chất của nhà khoa học cho biết cây trong kỷ Cácbon không có vòng, các con thú phần lớn là cá và bò sát - khủng long, chưa xuất hiện thú có lông, điều đó chứng tỏ Trái Đất của chúng ta lúc bấy giờ còn đang quay thẳng trục song song với trục quay của Mặt Trời chưa xuất hiện mùa đông, Trái Đất lúc bấy giờ khí hậu ở trạng thái nóng và ẩm, mưa nắng liên tục cho nên xuất hiện nhiều những khu rừng và những khu rừng chìm nửa nước, nửa không gian, giai đoạn đó tạo nên rất nhiều mỏ than đá. Kỷ nguyên này cách ta vào cỡ 300 triệu năm. Các loài bò sát ở châu lục cổ phát triển rất mạnh.
Trong giả thuyết này, tác giả đưa ra một biến cố lịch sử của Trái Đất để giải thích các hiện tượng diệt vong của khủng long cuối kỷ Cácbon, đầu kỷ Pécmi - Triát, không phải hiện tượng thiên thạch từ Vũ Trụ rơi vào như các nhà khoa học đ• tiên đoán.

Tai biến của Trái Đất


Tai biến xảy ra trong chốc lát nhưng hậu quả đ• để lại hàng trăm triệu năm cho sự sống trên Trái Đất suốt kỷ Pecmi - Triát mà các nhà bác học cho đó là kỷ nguyên mờ mịt bí ẩn nhất trong lịch sử Hành Tinh của chúng ta. Có thể nói đó là “kỷ nguyên diệt vong” trong lịch sử Trái Đất. Quá trình hình thành và phát triển của Trái Đất theo giả thuyết này đ• xảy ra hai vụ nổ lớn nhất:
- Vụ nổ thứ nhất là vụ nổ sinh ra Mặt Trăng khi Trái Đất còn ở thể khí.
- Vụ nổ thứ hai chính là vụ nổ xảy ra cuối kỷ Cácbon đầu kỷ Pemi - Triát. Nhưng tại sao lại xảy ra vụ nổ này?
Trái Đất đ• trải qua 300 triệu năm “yên tĩnh” kể từ kỷ Cácbon trở về trước. Sau một thời gian dài Trái Đất đ• bức xạ nhiệt bằng núi lửa hoặc qua lớp vỏ mỏng ở đáy đại dương Têtit, làm cho vỏ Trái Đất co lại đến mức tối đa, gây ra trong nhân Trái Đất một áp suất vô cùng lớn, làm cho các dòng hạt nhân nguyên tử trong nhân chuyển động rất nhanh, lực đẩy Culon của các prôton rất lớn (theo giả thuyết này nhân Trái Đất cũng kết cấu giống như nhân Mặt Trời chủ yếu là các hạt nhân nguyên tử nơron và prôton).. Nhiệt độ lúc này trong nhân của Trái Đất còn cao hàng chục triệu độ C. Do các hạt chuyển động nhanh va đập gây ra vỡ hạt nhân nổ dây truyền tạo thành vụ nổ nguyên tử lớn. Vụ nổ đó xuất hiện ở bán cầu Bắc (bán cầu thuộc dương của Trái Đất). Vụ nổ đ• phá vỡ một khối lượng vỏ Trái Đất rất lớn trong kỷ Cácbon bằng diện tích Thái Bình Dương và Đại Tây Dương ngày nay cộng lại.
Hố nổ đó là hố Mariăng ngày nay, ở đáy biển Thái Bình Dương, có độ sâu 11,40km gần đảo Guam: vụ nổ ở vĩ độ 230 đến 300 vĩ Bắc và từ 1300 đến 1800 kinh Tây. Lực nổ đó mạnh tới mức đ• đẩy mảng vỏ Trái Đất có diện tích bằng Thái Bình Dương và Đại Tây Dương tung vào không gian thoát sức hút của Trái Đất, ngày nay quan sát được một đám bụi lớn nằm trong tam giác giữa Trái Đất - Mặt Trăng và nó. Đ• quan sát được hạt bụi to nhất có độ lớn hàng triệu km khối.
Ngày nay các bụi đó rơi vào Trái Đất mà các nhà khoa học gọi là thiên thạch: Khảo sát thiên thạch có độ tuổi bằng tuổi Trái Đất và thậm chí có cả chất hữu cơ - chính vật chất này là vỏ của Trái Đất tiền thân.
Trong vụ nổ lớn đó phản lực nổ xuyên qua nhân Trái Đất đội cả tảng thạch quyển lớn từ đáy đại dương Têtit trong kỷ Cacbon nổi nên thành siêu lục Păngêia (bằng cả năm châu lục của chúng ta ngày nay cộng lại), chỗ bật lên mạnh nhất đối với hố Mariăng là đỉnh Hymalaya ngày nay cao 8,9 km. Theo khảo sát của các nhà vô địch thể thao Mỹ đ• tìm thấy có cả xương cá voi trong tuyết. Điều đó chứng tỏ Hymalaya ngày xưa là đáy đại dương. Toàn cầu lúc bấy giờ do vụ nổ mà uốn nếp trong kỷ Hecxin tạo ra các núi và đồi trên khắp thế giới của chúng ta ngày nay. Vụ nổ này đ• chứng minh được bờ biển Thái Bình Dương có mỏ và tuổi địa chất giống nhau của các vật thể như: vàng, vonpram, đồng, chì, kẽm, thiếc, đá rubi,... Vì theo quan điểm của giả thuyết này đó là miệng hốc nổ, vật chất được tung lên từ nhân Trái Đất cho nên khảo sát được có cùng một tuổi địa chất là vì vậy.
Ngày nay các núi ở Việt Nam có hướng nghiêng ra biển Đông theo các lớp cắt địa chất ở các núi đá là do vụ nổ xuất hiện ở biển Đông, cho nên các đỉnh núi phải hướng về tâm nổ do các sóng mácma ở lớp gần vỏ Trái Đất tạo nên. Vụ nổ đó cũng đ• chứng minh được một điều: biển Thái Bình Dương là biển cổ nhất so với các biển còn lại. Sau vụ nổ này do sự phân bố vật chất không đồng đều trên Hành Tinh, một bên lục địa cao, một bên biển sâu Trái Đất đ• lật hẳn trục ngược lại: Bắc thành Nam, Nam thành Bắc. Khảo sát địa chất ngày nay trong các cổ từ có hiện tượng như vậy. Chưa có giả thuyết nào giải thích hiện tượng tại sao Trái Đất lại đổi cực, trục Trái Đất lệch rất nhiều độ so với ngày nay.
Do vụ nổ đội cả biển lên nên trong đất liền còn để lại một số biển nhỏ như Hắc Hải, Lý Hải,.....và hiện tượng muối mỏ, mỏ than được hình thành trong lục địa. Ngày nay khảo sát trên các núi ở Việt Nam chúng ta cũng có sò, ốc, hến,.....mà theo tính toán của các nhà địa chất học cỡ tuổi vào 225 đến 250 triệu năm tức là ứng với tuổi của kỷ Pecmi - Triát. Vụ nổ đ• làm cho hàng loạt khủng long, cá và các sinh vật - thực vật chết tới 95% sự sống vì nhiễm xạ, và khí độc kết hợp với Trái Đất nghiêng trục, mùa đông xuất hiện băng giá, mùa hè do bao bọc bởi khí cácbon dày đặc tạo nên hiệu ứng nhà kính nên toàn cầu bị sa mạc hóa. Nước trên Hành Tinh rút xuống hố Mariăng và bị bốc hơi liên tục nên không có hiện tượng mưa thậm chí các sinh vật trong biển của kỷ Pemi - Triát không còn sự sống. Phải sau nhiều triệu năm biển mới hồi sinh nước phủ đầy, các sinh vật lại bắt đầu tạo nên các sự sống mới nhất là những loài thực vật có hoa thụ phấn và động vật có vú xuất hiện, tức là những loài thú có lông và cây lúc bấy giờ cây đ• có vòng theo chu kỳ năm.
Do Trái Đất tự quay quanh trục các tảng thạch quyển được đội lên thành siêu lục Păngêia bị vỡ ở những nếp lớn được chuyển dịch dần về hố nổ Thái Bình Dương để cân bằng trọng lượng Hành Tinh tạo ra hiện tượng trôi lục địa theo thuyết của A.Wegener (Đức) đ• đưa ra. Giả thuyết này khác với giả thuyết Tĩnh và giả thuyết Động của các Nhà Khoa học giải thích việc các lục địa trôi dạt. Giả thuyết này chứng minh các lục địa trôi dạt theo lực cơ học chứ không phải lực đối đầu nhau của các tảng thạch quyển tạo nên Hymalaya như các thuyết khác đ• trình bày (Thuyết kiến tạo mảng).
Do trôi lục địa cho nên Hymalaya ngày nay đ• chuyển dịch khác với thời kỳ tiền lục địa về kinh tuyến và vĩ tuyến. Giả thuyết mới này cũng đ• chứng minh được d•y san hô ở đáy Thái Bình Dương có được là vì trong thời kỳ biển hồi sinh nước còn nông, ánh sáng Mặt Trời còn chiếu rọi xuống cho nên san hô mới phát triển được ở các miệng núi lửa ở đáy Thái Bình Dương. Khi khối lượng nước trên khí quyển đ• mưa dồn xuống hết thì biển trở nên sâu như ngày nay, để lại các d•y sanhô mà Đácuyn đ• phát hiện được trong thời kỳ khảo sát đại dương.
Khi tảng thạch quyển lớn nhất là châu Mỹ tách khỏi châu Phi trong nhân Trái Đất do mácma đùn lên và nguội dần tạo thành sống đá đại dương ngày nay. Biển Đại Tây Dương được hình thành sau nhiều trăm triệu năm trôi dạt lục địa. Theo quan điểm của giả thuyết này, vùng ấn Độ, Inđônêxia, Việt Nam, Malaysia trước kia khi chưa trôi lục địa nằm gần vùng đất ảrập ngày nay. Do sự trôi lục địa mới tạo ra biển ấn Độ Dương. Theo giả thuyết này nhân nóng của Trái Đất ngày nay lệch về phía Thái Bình Dương. Khi ta nối hai địa cực từ của hai cực Trái Đất lại với nhau, và trên xích đạo từ vạch một đường vuông góc với trục từ giao điểm đó làm tâm, ta quay một vòng tròn thì ta nhận thấy rằng vòng tròn đó là nhân của Trái Đất lệch về Thái Bình Dương. Vì lý do như vậy Thái Bình Dương là vành đai lửa và các hiện tượng động đất, núi lửa thường xảy ra liên tục như Nhật Bản ngày nay, và rất nhiều ổ b•o cũng xuất hiện từ đáy biển này. Các dòng hải lưu cũng tạo nên khá mạnh trong biển này có lý do như vậy. Các dòng hải lưu là do nước biển tiếp xúc với vùng nóng của nhân Trái Đất, kết hợp với các vùng nước lạnh để tạo thành các dòng chảy liên tục trong biển do đối lưu nhiệt.
Hiện tượng đó còn thể hiện ở một số chứng cớ nữa ở đáy biển còn để lại hàng trăm mét đá xốp dày và rất rộng ở miền Tây châu Mỹ, loại đá này được tạo ra ở chỗ tiếp xúc giữa mácma chảy lỏng (30000K) với nước muối trong nhiệt độ giảm đột ngột mà tạo thành. Loại đá này cũng như loại đá bọt xốp nổi lên trong những vùng núi lửa cuốn trào chất mácma từ nhân Trái Đất lên qua nước đại dương, ngày nay khảo sát được.
Vụ nổ tạo lên lục địa ngày nay rất mạnh đ• làm cho vỏ Trái Đất nứt rạn ở nhiều nơi, khi nâng lên cao và lúc rơi xuống, chúng va chạm nhau ở các chỗ giáp ranh của hai mảng thạch quyển,đ• tạo thành những lớp chờm lên nhau và do trôi,lục địa càng bị nhấn chìm xuống hơn như ngày nay đ• khảo sát được.
Sau vụ nổ,Trái Đất đ• mất đi một khối lượng vật chất đáng kể nhiệt độ trong nhân đ• suy yếu hẳn do vật chất nóng đ• tung vào không gian, Trái Đất đang quay nhanh bỗng chuyển sang trạng thái quay chậm là vì vậy (theo tài liệu tính toán của các nhà địa chất và các nhà thiên văn, Trái Đất đang quay nhanh bỗng nhiên quay chậm lại. Tại sao lại như vậy thì chưa giải thích được?). Theo giả thuyết mới này trong kỷ Cácbon, ngày của Trái Đất vào cỡ 20 giờ, 200 ngày thì quay được một vòng xung quanh Mặt Trời. Sau vụ nổ Trái Đất đ• quay với tốc độ 23h27' mới được 1 vòng, do khối lượng nóng trong nhân của Trái Đất bớt đi, và như vậy lực hút của Trái Đất và Mặt Trời giảm, Trái Đất đ• dịch ra xa Mặt Trời tới bán kính quỹ đạo như ngày nay từ 149 đến 150 triệu Km, năm của Trái Đất ngày nay là 365 ngày.
Sông băng trên xích đạo
Sông băng trên xích đạo được giải thích như sau: Sau vụ nổ lớn ở Thái Bình Dương một lượng tro bụi lớn chủ yếu là CO2 và hơi nước đ• liên tục tung vào không gian bao bọc xung quanh Trái Đất trong nhiều năm như hiện tượng khí quyển của sao Kim. Mùa đông ánh sáng của Mặt Trời không lọt qua được nên băng hà được tạo lên trên miền xích đạo, các đỉnh núi đều chứa băng tuyết dày đặc. Đến mùa xuân khi có khí nóng Mặt Trời các tảng băng tan trôi dạt tạo nên các vết xước trên các mỏm đá. Lục địa Gônvana còn để lại các vết xước trên các mỏm đá, thung lũng băng xuất hiện trên những nước nhiệt đới như ấn Độ, châu Phi. Phải sau một thời gian khá dài, khi tro bụi tan đi Mặt Trời sưởi ấm nước, băng tan ra và các loài động vật, thực vật lại tái sinh.
Nhưng một điều kỳ lạ khác lại xuất hiện đó là kỷ Pecmi - Triát, biển lùi xa liên tục.
Đây là thời kỳ khô hạn khắc nhiệt nhất của Hành Tinh của chúng ta. Một vụ nổ lớn như vậy, vỏ Trái Đất mất đi một khối lượng rất lớn, nhân Trái Đất bị lộ ra, nhiệt độ rất cao, nên nước trên đại dương rút xuống hố sâu, lại bị tiếp xúc với một diện tích lớn manti nóng chảy vào khoảng 3.0000C (trong nhân Trái Đất nhiệt độ lúc bấy giờ vào khoảng 8.0000C) cả khối lượng nước dồn xuống Thái Bình Dương bị hun nóng sôi sục liên tục, biến thành hơi bốc lên, sự kiện này đ• xảy ra hàng chục triệu năm, nên biển lùi liên tục là vì vậy. 1
Còn trên các miền lục địa thì sao?
Trên các miền lục địa mới được sinh ra do vụ nổ đội lên từ đáy biển nên Lục địa lúc bấy giờ rất giàu kali (vật chất ở đáy biển kali chiếm 40-60%, chất này còn được gọi là natri hoặc cloruanatri hay manhedi) cho nên ngày nay trên lục địa giàu kali hơn là đại dương, trước kia đáy biển Têtít đ• được tích tụ kali từ 300 triệu năm về trước, kể từ kỷ Cacbon, còn biển ngày nay nghèo kali và nghèo đá hoa cương là vì do trôi lục địa mà tạo thành vật liệu mácma là chủ yếu ở đáy đại dương.
Trên các miền lục địa mới sinh này xảy ra hạn hán rất khắc nhiệt (vì biển sôi không tạo được mưa) lục địa tạo thành sa mạc trong kỷ Pecmi - Triát. Do tro bụi núi lửa và khí CO2 bao phủ lớp khí quyển dày đặc. Mỗi khi mùa hè đến loại khí này hấy thụ năng lượng nhiệt của Mặt Trời rất nhanh, nên khí quyển đ• nâng nhiệt độ cao hơn trong giai đoạn trước từ 10-150C. Nước trên các sông, vũng, hồ, biển bốc hơi hết trong các vùng biển cạn để lại đá muối trong các vùng lục địa, tiếp đó những cơn gió cát Pecmi đ• phủ lấp chúng đi dưới độ sâu, do áp suất lớn trong nhiều triệu năm đ• biến thành đá muối mỏ kết tinh. Cái nóng đ• làm cho động vật, thực vật bị tiêu diệt, hoặc phải biến đổi, các sinh vật thay đổi cách sống để thích nghi và tồn tại. Thực vật chuyển sang thực vật sa mạc, chịu khô hạn, sống thoi thóp trong khí hậu khô cằn khắc nghiệt hàng chục triệu năm. Thực vật hạt trần xuất hiện, các động vật hầu như vắng bóng hẳn.
Lục địa hoang vu phủ một lớp cát đỏ, di sản của thời kỳ này để lại cho biên niên sử đá của Trái Đất là tầng cát kết màu đỏ, vắng bóng sinh vật (theo khảo sát địa chất của Liên Xô cũ trong cuốn tài liệu “Ngược dòng lịch sử Trái Đất” của Găng Nut).
Những nguyên nhân xảy ra đồng thời các sự kiện trong đại dương, trên lục địa và khí quyển, sự tiêu diệt động - thực vật là do một biến cố có tính lịch sử trọng đại, trong quá trình phát triển địa chất và sự sống trên Hành Tinh của chúng ta. Trọng tâm vấn đề đó chỉ là Vụ nổ lớn (cuối kỷ cácbon đầu kỷ Pecmi) phá vỡ vỏ Trái Đất mất đi một khối lượng rất lớn tạo thành Thái Bình Dương, nhưng vụ nổ đó đ• kiến tạo nên bề mặt lục địa giàu phong cảnh hùng vĩ, đẹp đẽ của chúng ta ngày nay.
Trái Đất cũng đ• trải qua một thời kỳ “khao khát sự huỷ diệt để tồn tại" như Gớt đ• viết.
Thái Bình Dương - một đại dương yên tĩnh, cái tên đ• được Magienlăng- nhà khoa học vĩ đại đi tìm Trái Đất tròn đặt cho nó, ẩn dưới cái tên đầy thơ mộng, thế mà một thời oanh liệt của nó đ• trải qua cuộc chiến tranh khốc liệt giữa nước và lửa kéo dài hàng chục triệu năm trong lịch sử của Hành Tinh.
Pecmi - Triát - một kỷ nguyên huyền bí nhất trong lịch sử, đ• sáng tạo biết bao điều kỳ diệu: kỷ nguyên tạo ra núi đồi, các vùng mỏ, vùng vịnh, sông ngòi vĩnh viễn không trở lại, vì nhân Trái Đất đ• thu hẹp, nhiệt độ đ• suy yếu nhiều sau kỷ Pecmi - Triát. Phải sau nhiều triệu năm khi vết thương địa quyển đ• hàn gắn lại, bầu khí độc đ• tiêu tan đi, nhiều vùng mưa lại tiếp diễn, sự sống trên Hành Tinh lại hồi sinh, Trái Đất lại bước sang một kỷ nguyên biển tiến, nạn mưa lụt liên tục xảy ra. Nhiều loài và các động vật có vú được xuất hiện sau thời kỳ này.

Lục địa dịch chuyển từ kỷ jura


Tại sao lục địa chỉ dịch chuyển bắt đầu từ kỷ Jura?
(Theo tài liệu khảo sát địa chất và đại dương các nhà bác học đ• nhận thấy lục địa chỉ dịch chuyển từ kỷ này, còn 300 triệu năm về trước lục địa không dịch chuyển).
Thực ra đến kỷ này lục địa mới bắt đầu dịch chuyển được, sau vụ nổ lớn như vậy vỏ Trái Đất đ• đứt g•y ở nhiều chỗ có nghĩa là vỏ địa cầu bị nứt rạn sau vụ nổ, do sự quay quanh trục của Trái Đất kết hợp với sự phun trào mácma vào các khe nên lục địa đ• phải dịch chuyển về chỗ khuyết là Thái Bình Dương để cân bằng trọng lượng của vỏ Hành Tinh, nên quan sát Thái Bình Dương vùng bị vỡ ngày một thu hẹp lại, trong khi đó Đại Tây Dương ngày một rộng ra là vì vậy.
Tốc độ dịch chuyển trong kỷ Jura nhanh hơn ngày nay rất nhiều, vì vỏ Trái Đất lúc bấy giờ còn mỏng, lại được dịch chuyển trên khối Manti chảy lỏng. Còn nay tốc độ dịch chuyển chậm vì vỏ Trái Đất đ• dày cứng hơn nhiều, khối lục địa phải dịch chuyển trên lớp cứng bị ma sát với vỏ Đại dương. Nhưng một điều chúng ta phải tìm hiểu tại sao tiền lục địa Pangêia bán cầu Bắc lục địa chiếm ưu thế, ngược lại bán cầu Nam Đại Dương lại nhiều hơn?
Để làm sáng tỏ điều này ta có nhận xét sự kiện xảy ra như sau:
Vụ nổ nằm từ 230 đến 300 vĩ Bắc, tức là bán cầu thuộc dương, điện tích dương proton trong nhân Trái Đất ở bán cầu này hoạt động mạnh hơn (nói chung bán cầu Bắc của tất cả các thiên thể proton bao giờ cũng hoạt động mạnh hơn ở bán cầu Nam) nên vụ bổ đ• xảy ra trên vĩ độ của bán cầu đó. Sức mạnh đó đ• đội cả một vùng rộng lớn trồi lên trên mặt đại dương tạo thành lục địa Lavrasia có diện tích rộng lớn là vì vậy. Vùng xích đạo bị một áp lực nổ tấn công đ• làm đứt g•y thành một khe nứt rất lớn nên hai lục địa tách nhau cũng ở vĩ độ này, thành hai bán cầu độc lập. Đến kỷ Jura lục địa trôi từ những chỗ đứt đó. Như vậy ở kỷ đó Trái Đất liền phân ra hai lục địa độc lập: Lavrrasia và Gonvana và cũng từ đấy biển Đại Tây Dương ra đời.
Nhưng Greenland, Bắc Mỹ và đại lục Âu á vẫn còn gắn bó với nhau, nên đ• hình thành thế giới động vật thống nhất (giới động vật có vú và nhau). Khi vỏ của Trái Đất đ• bị nứt rạn ở nhiều chỗ sau vụ nổ, từ các khe nứt này, lớp mácma chảy lỏng trong nhân bị áp suất cao làm nó phun trào vào các khe nứt trong núi của thung lũng Riftơ, kết tinh thành các d•y núi đá ba dan màu đen xô lấn các khe nứt (như tài liệu của các nhà khoa học địa chất đ• khảo sát được). Ta nên chú ý rằng khi Lục địa mới được đội trồi lên các thềm ven lục địa vẫn còn dốc đứng, m•i sau này thềm lục địa mới sinh ra do sự trôi dạt vật chất đất đá qua sông ngòi thải ra trong các trận lũ lụt.
Qua giả thuyết trên chúng ta nhận biết: lục địa trên Hành Tinh đ• ra đời rất sớm, chúng đ• phát triển độc lập thành các nền cổ, tức là tiền lục địa đ• có vào kỷ Pecmi - Triát, cuối kỷ Cacbon. Như vậy có nghĩa là tiền lục địa, các châu lục còn gắn liền với nhau, châu Phi và châu Mỹ, ấn Độ và ảrập, châu Đại Dương gắn với châu Phi,... cho nên khảo sát địa cổ từ, các mỏ khoáng, các loài động - thực vật kể cả màu da của nhiều loài cũng còn di truyền lại cho tới ngày nay có nhiều đặc tính khớp với nhau - cùng một giới địa lý nhất quán.
Vậy tuổi của Trái Đất đ• là bao nhiêu ? Theo ước tính của các nhà bác học Liên Xô cũ (do xem xét các mẫu đá, đất bằng phóng xạ cácbon thì vào khoảng hơn 4.6 tỷ năm). Theo quan điểm của giả thuyết này thì tuổi đó theo khảo sát mới là tuổi của vỏ Trái Đất. Nhưng theo giả thuyết này Trái Đất sinh ra từ Mặt Trời, tức là nó đ• trải qua từ thể khi nóng sáng như một ngôi sao sang thể lỏng rồi đến thể rắn, thì tuổi của nó phải được cộng thêm 9 tỷ năm nữa, tức là Trái Đất có tuổi vào khoảng 13,6 tỷ năm.

└(≣) Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ ! 27 Tháng 10 2013 19:51 #2715

  • Lê ĐìnhQuỳ
  • không trực tuyến
  • Meteorite
  • Tổng số bài viết: 14
4. CẤU TRÚC CỦA TRÁI ĐẤT


Trái Đất đã trải qua ba trạng thái vật chất: thể khí, thể lỏng và thể rắn
Ta có thể chia ra ba phần cơ bản:
1 - Vỏ Trái Đất
2 - Phần hoạt động đối lưu của macma
3 - Nhân Trái Đất

Phần vỏ Trái Đất:
Phần vỏ của Trái Đất có ba lớp kiến tạo:
Phần ngoài cùng là các lớp trầm tích, lớp thứ hai là các loại đá trầm tích, lớp thứ ba là lớp đá huyền vũ rắn và bền, giàu kim loại, ở độ sâu 2900km. Lớp này là do kết tinh của chất macma nặng (giàu sắt và manhê, niken) dươi áp suất cao tạo thành.

Phần hoạt động đối lưu của macma:



Lớp này nằm sâu dưới lớp đá huyền vũ 2900km (theo khảo sát địa chất), giữa lớp macma nóng chảy với lớp huyền vũ có một lớp đặc sệt, nó là lớp chuyển tiếp để nguội dần tạo cho vỏ Trái Đất và vỏ đại dương ngày một dày thêm. Phần mácma này có hoạt động đối lưu để bức xạ nhiệt từ nhân Trái Đất ra ngoài. Những xoáy nóng từ nhân đi ra ngoài bức xạ nhiệt rồi lại chìm xuống rất sôi động.
Chính các dòng xoáy nóng này bức xạ nhiệt qua nước biển tạo thành tâm bão ở các biển sâu như Thái Bình Dương, Philippin,... Các dòng xoáy nóng này có chiều thuận dương tức là ngược chiều kim đồng hồ. Mỗi khi trong nhân xuất hiện các vụ nổ ngầm, các hạt nơtron tạo thành những dòng xoáy đi ra và đi vào hình thành những cực nam châm, như hiện tượng vết đen xuất hiện trên Mặt Trời, tạo thành “Tam giác quỷ” hút và nhấn chìm máy bay, tàu biển.
Do nhân Trái Đất bức xạ nhiệt, vỏ Trái Đất co lại làm cho áp suất trong nhân tăng lên do lực đẩy Culon của các prôton, các hạt nhân chuyển động mạnh nên sinh ra nhiệt năng, nhân Trái Đất lại nở ra, ép lớp mácma buộc phải thoát ra ngoài tạo thành núi lửa và động đất, hoặc làm nứt rạn vỏ cứng ở đại dương. Khi cân bằng áp suất giữa nhân và vỏ mới trở về trạng thái yên tĩnh.
Lớp này vật chất cấu tạo giàu chất kim loại như sắt, niken, silic,... nên độ dẫn điện rất nhanh.
Động đất ghi lại khoảng 130 Richte có tính như nước pha kim loại.
Nhân Trái Đất:
Theo giả thuyết này Trái Đất ra đời từ Mặt Trời, ban đầu trong nhân Trái Đất nhiệt độ tiền thân có thể tới hàng vài chục triệu độ C. Vì vậy, kết cấu trong nhân Trái Đất chủ yếu là những hạt nguyên tử, trần trụi bao gồm: proton và nơtron (đó là vật chất tiền sao có từ trường rất mạnh).
Hiện nay, theo tính toán của các nhà bác học nhân Trái Đất chịu một áp suất khổng lồ đến 3 triệu Atmopsphe. Vì trong nhân Trái Đất cấu trúc bằng các hạt nhân nguyên tử cho nên lực hạt nhân ở trong vùng nhân rất mạnh. Vì vậy mỗi khi các nhà khoa học thử các sóng âm nó không xuyên qua nhân Trái Đất là vì vậy, còn quan điểm của các nhà khoa học cho rằng nhân Trái Đất của chúng ta được kết cấu bằng một vật liệu siêu rắn. Nhưng theo quan điểm của giả thuyết này ở vào nhiệt độ nhân vào cỡ 40000C trung bình thì vật chất không ở trạng thái siêu rắn được. Còn trong nhân do cấu trúc bằng một “đội quân nguyên tử” có lực mạnh cho nên sóng âm không thể làm rung chuyển được. Vật chất trong nhân theo quan điểm của giả thuyết này: siêu lỏng tức là giữa trạng thái lỏng và trạng thái khí.
Nhân Trái Đất là yếu tố quyết định sự sống quan trọng của Hành Tinh chúng ta. Nó quyết định tới khí quyển, khí hậu, gia tốc trọng trường, thời gian ngày và đêm,... Những yếu tố đó có quan hệ tới sự sống trên bề mặt Hành Tinh.

PHƯƠNG PHÁP TÍNH NHIỆT ĐỘ
TRONG NHÂN CÁC HÀNH TINH THUỘC HỆ MẶT TRỜI


Theo lý thuyết của giả thuyết này, trong các thiên thể của Vũ Trụ như các sao, Mặt Trời, sao nơtron - quaza, nhân các Thiên Hà, các Hành Tinh đều có lực tự quay quanh trục. Lực tự quay này liên quan trực tiếp bởi 3 đại lượng vật lý đó là: khối lượng, nhiệt lượng trong nhân và thời gian tự quay quanh trục.
Để tìm hiểu nhiệt độ trong nhân của Mặt Trời và những Hành Tinh thuộc hệ Mặt Trời ta lấy thông số đã đo được tương đối chính xác của Trái Đất đó là: nhiệt độ nhân trong Trái Đất - khối lượng Trái Đất - thời gian tự quay quanh trục làm các thông số đã biết.
Lập một phương trình kép để giải những ẩn số của các thiên thể kể cả Mặt Trời hoặc bất cứ một ngôi sao nào khi ta đã biết được khối lượng và thời gian tự quay quanh trục.
Hệ phương trình như sau:



Trong đó:
- t0TĐ là nhiệt độ trong nhân Trái Đất = 37500C
- mTĐ là khối lượng Trái Đất đã biết lấy đơn vị = 1
- T là thời gian tự quay quanh trục = 24 giờ
- tox là nhiệt độ trong nhân của Hành Tinh cần tìm
Áp dụng hệ phương trình kép này vào Sao Thủy ta có:
Khối lượng của Sao Thủy so với Trái Đất là 0,055 lần. Thời gian tự quay trung bình: 58 ngày, đổi ra giờ: 1392 giờ. Đó là những đại lượng đã biết. Còn một ẩn số X là nhiệt độ trong nhân ta sẽ giải như sau:

Để tính nhiệt độ trong nhân Sao Thủy ta có:



Nhiệt độ trong nhân Sao Thủy = 64,70C

Nhiệt độ trong nhân sao Kim: 243 ngày 24h = 5832h



Nhiệt độ trong nhân sao Kim là 16o C

Nhiệt độ trong nhân sao Hỏa:



Nhiệt độ trong nhân sao Hoả là 35450,5 C

Nhiệt độ trong nhân sao Mộc (ở đây thời gian sao Mộc tự quay lấy tròn 10 giờ).



Nhiệt độ trong nhân sao Mộc còn rất cao vào cỡ 11,67 vạn độ C, cho nên sao Mộc có khối lượng gấp 318 lần Trái Đất, mà thời gian tự quay rất nhanh, chỉ hết 9 giờ 50 phút đã được một vòng. Sao này phát sóng vô tuyến và thường xuyên nổ là vì vậy.

Nhiệt độ trong nhân sao Thổ:



Như vậy nhiệt độ trong nhân sao Thổ rất cao vào khoảng 38304,7oC

Nhiệt độ trong nhân sao Thiên Vương (tự quay 17h một vòng)


Nhiệt độ trong nhân sao Thiên Vương vào khoảng 80410C

Nhiệt độ trong nhân sao Hải Vương:


Nhiệt độ trong nhân sao Hải Vương: 9.6320,8 C. Vì khối lượng lớn hơn sao Thiên Vương mà nhiệt độ lại cao hơn nên tự quay chậm: 15 giờ được 1 vòng.

Nhiệt độ trong nhân sao Diêm Vương: (6,3 ngày 24h =151,2h)


Nhiệt độ trong nhân sao Diêm Vương vào khoảng 5920C. Vì nhiệt độ rất kém nên từ trường sao này rất yếu so với từ trường Trái Đất. Sao này lại nằm ở quỹ đạo rất xa Mặt Trời. Mặt phẳng cân bằng lực của hai đường sức Mặt Trời ở khoảng cách này rất yếu nên quỹ đạo sao Diêm Vương đi chếnh choáng. Còn các sao khác đều nằm trên “Mặt phẳng cân bằng lực” của hai đường sức Mặt Trời nên quỹ đạo tương đối ổn định”.
Qua tính toán trên, các số liệu về nhiệt độ trong nhân của các Hành Tinh phù hợp với lý thuyết. Các sao lớn tuy ra đời trước nhưng khối lượng lớn, bức xạ lâu hơn nên quay nhanh hơn. Điều đó chứng tỏ nhiệt lượng trong nhân còn cao. Nhiệt lượng của các Hành Tinh, vệ tinh đều lấy ở Mặt Trời trong các vụ nổ.


BẢNG TÍNH TOÁN LỰC NỔ CỦA MẶT TRỜI
MÀ MỖI HÀNH TINH NHẬN ĐƯỢC ĐỂ VĂNG RA
ĐẾN QUỸ ĐẠO ỔN ĐỊNH


(Tổng lực nổ này chưa phải là lực nổ thực của Mặt Trời mà lực nổ thực so với bảng tính toán này còn lớn hơn nhiều)

Tính theo công thức 2 của Newton:

Trong đó:
a là gia tốc trọng trường ở xích đạo Mặt Trời
m là khối lượng của các Hành Tinh
Gia tốc a của Mặt Trời đã tìm được là 273,8m/s2 đổi ra: 0,2738km/s2

Sao Thủy:
FT = (0,33x 1024) x 0,2738 = 0,090254x1024KG
hay = 903,54x1020 KG
Sao Kim:
FK = (4,27x1024) x 0,2738 = 1,169126x1024KG
hay = 11691,26x1020KG
Trái Đất:
Fđ = (5,98x1024) x 0,2738 = 1,637324x1024KG
hay = 1637,24x1020 KG
Sao Hoả:
FH = (0,33x1024) x 0,2738 = 0,090354x1024 KG
hay = 903,54x1020 KG
Sao Mộc:
FM = (1900x1024) x 0,2738 = 520,220000x1024 KG
hay = 5202200x1020 KG
Sao Thổ:
Fth = (598x1024) x 0,2738 = 163,732400x1024KG
hay = 1637324x1020 KG
Sao Thiên Vương:
FTV = (97x1024) x 0,2738 = 23,820600x1024 KG
hay = 238206,00x1020 KG
Sao Hải Vương:
FHV = (103x1024) x 0,2738 = 28,201400x1024KG
hay = 282014x1020 KG
Sao Diêm Vương:
FD = (5,5x 1024) x 0,2438 = 1,5059000x1024 KG
hay = 15059,00x1020 KG

└(≣) Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ ! 29 Tháng 10 2013 10:26 #2717

  • Lê ĐìnhQuỳ
  • không trực tuyến
  • Meteorite
  • Tổng số bài viết: 14
TÍNH LỰC HẤP DẪN CỦA CÁC HÀNH TINH
THUỘC HỆ MẶT TRỜI VỚI MẶT TRỜI


F là lực hút về vật thể trung tâm, vật thể trung tâm là Mặt Trời.
Áp dụng công thức của Newton:
F = f.M.m = km (1) (F lực hấp dẫn của Mặt Trời)
r2 r2



Trong đó:
K = f.m F = K.m
r2
f là hằng số hấp dẫn
M là khối lượng Mặt Trời
m là khối lượng của một Hành Tinh nào đó
K của Mặt Trời đã được tính sẵn là
132,34.109 KG
(1) “Công thức và hệ số K lấy từ sách Các Vệ tinh và con tàu Vũ Trụ Liên Xô do Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô xuất bản năm 1961 của Alếchxanđrốp và R.E.Phêđôrốp”.
Theo công thức (1) ta tính lực F cho từng Hành Tinh như sau:
Sao Thủy:
FT = (132.34 109) (0.33 1024)
(579 105)2
(Ở mẫu số nhân với 106 vì ta phải đổi từ triệu km ra km cho cùng số đo với tử số).
= - 430672 1023 = - 436272 1030 = - 1,302.1020KG
(579)2 (10)2 3352.41 1010

Sao Kim:
FK = (132.34 109) (4.55 1024)
(1081 105)2
= - 604.7938 1033 = - 5,175.1020KG
116860 1010

Trái Đất:
FK = (132.34 109) (5.98 1024)
(1495 105)2
= - 791.3932 1033 = - 3,5481026KG
223052 1010

Sao Hỏa:
FK = (132.34 109) (0.64 1024)
(2778 105)2
= - 604.7938 1033 = - 0,110.1020KG
116860 1010

Sao Mộc:
FK = (132.34 109) (1900 1024)
(2775 105)2
= - 251446.0 1033 = - 41,563.1020KG
6049728.4 1010

Sao Thổ:
FK = (132.34 109) (598 1024) = 79139.32 1033
(14261 105)2 2033476.1 1010
= - 79139320 1030 = - 0.892.1020KG
2033476.1 1010


Sao Thiên Vương:
FK = (132.34 109) (4.55 1024) = - 1113.58 1033
(28691 105)2 (28691 105)2
= - 11613580 103 = - 0,356.1020KG
82311610 1010

Sao Hải Vương:
FK = (132.34 109) (4.55 1024)
(44957 105)2
= - 13631020 1030 = - 0,067.1020KG
20214060 1010

Sao Diêm Vương:
FK = (132.34 109) (4.55 1024)
(58991 105)2
= - 727879 1033 = - 0,021.1020KG
34798200 1010

HỆ SỐ TỶ LỆ K


Theo lý thuyết của giả thuyết này, cùng một áp lực nổ, trong cùng một vụ nổ. Hành Tinh nào lớn thì ở gần, Hành Tinh nào nhỏ thì ở xa, nó phụ thuộc vào lực hấp dẫn giữa tâm nổ với các thiên thể được nổ ra, vì vậy trong hệ Mặt Trời các Hành Tinh sắp xếp rất phức tạp. Để chứng minh sự sắp xếp đó chúng ta dùng vật lý và toán học kiểm tra.
Để kiểm tra cự ly xa hay gần của các Hành Tinh đối với Mặt Trời, ta có hệ số tỷ lệ “k” (giữa lực văng ra và lực hút vào) sau đây:
k = Fn
Fh
Trong đó: k: hệ số tỷ lệ
Fn: tổng lực nổ
Fh: lực hấp dẫn
Trong vụ nổ đầu ta tính tổng lực nổ của các Hành Tinh: sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải vương và sao Diêm Vương là lực nổ gần tương đương với lực nổ thực của Mặt Trời.
Vụ nổ thứ nhất:
Tổng lực nổ 5 Hành Tinh nhận được để đạt đến quỹ đạo như ngày nay:
F = 7374803. 1020 KG
- Lấy tổng lực nổ này chia cho lực hấp dẫn của mỗi Hành Tinh ta sẽ được hệ số tỷ lệ k nói lên khoảng cách xa hay gần đối với Mặt Trời.
Ta có trị số sau:
Sao Mộc k= 17.745
Sao Thổ k=289.584
Sao Thiên Vương k=2.071.574
Sao Hải Vương k=11.007.168
Sao Diêm Vương k=351.180.109
Qua hệ số tỷ lệ trên ta nhận thấy rất phù hợp với bán kính quỹ đạo của các Hành Tinh, hệ số tỷ lệ k càng lớn thì ứng với bán kính quỹ đạo càng xa, và đối với hệ số tỷ lệ càng nhỏ thì bán kính quỹ đạo càng gần.
Vụ nổ thứ 2:
Bao gồm Trái Đất, sao Hỏa, sao Kim, chưa cộng với hệ Tiểu Hành Tinh và các vệ tinh.
Tổng lực nổ F = 18625.1020 KG.
Chia cho lực hấp dẫn của Trái Đất, sao Hỏa ta có hệ số k như sau:
Trái Đất k = 4.745,96
Sao Hỏa k = 169.318,18
Tổng lực nổ sao Kim nhận được (nhưng chưa phải là tổng lực nổ thực của Mặt Trời).
Tổng lực nổ Fn = 11691,26.1020KG
Chia cho lực hấp dẫn của sao Kim
Ta có k = 2.259,18
Vụ nổ thứ 3:
Tổng lực nổ sao Thủy nhận được là lực nổ của Mặt Trời trong vụ nổ cuối cùng.
Tổng lực nổ Fn = 903,54.1020KG
Chia cho lực hấp dẫn của sao Thủy
Ta có hệ số tỷ lệ k = 693,96
Sự phân bố 3 vụ nổ thì hệ số k rất tương ứng với quy luật sắp xếp quỹ đạo của các Hành Tinh thuộc hệ Mặt Trời, tức là bán kính quỹ đạo của các Hành Tinh xa hay gần, phụ thuộc vào những vụ nổ đầu hay cuối. Qua kiểm nghiệm bằng toán học, chúng ta thấy vụ nổ thứ nhất rất mạnh gấp hàng trăm lần vụ nổ thứ hai, cũng vì vậy Mặt Trời nổ sinh ra một lúc 5 Hành Tinh lớn và ở xa nhất so với các Hành Tinh còn lại. Lần nổ sau yếu dần, cho tới lúc tổng mômen động lượng của các Hành Tinh cân bằng với mômen động lượng của Mặt Trời, thì Mặt Trời không sinh ra thêm Hành Tinh nào nữa. Mômen động lượng Mặt Trời chiếm 2%, mômen động lượng tổng các Hành Tinh chiếm 98%.
Sau đây là hệ thống 3 vụ nổ, lập thành bảng số những kết quả thu được sau tính toán bằng vật lý và toán học. Trong bảng này bán kính quỹ đạo của sao Hỏa và sao Mộc gần nhau, nhưng thực tế của vụ nổ của Mặt Trời sinh ra sao Mộc có áp lực còn gấp nghìn lần so với vụ nổ sinh ra sao Hỏa, khối lượng sao Mộc lớn nên quỹ đạo gần.
Sự tương ứng giữa lực nổ (Fn), hệ số tỷ lệ (k) với khoảng cách thực của các Hành Tinh (R).
Qua bảng so sánh hệ số k với khoảng cách thực của các Hành Tinh sau đây, chúng ta nhận thấy có sự thích ứng không sai số như các bảng tính thử nghiệm cũng như sự sắp xếp các Hành Tinh lớn, nhỏ trong hệ Mặt Trời là hợp lý. (Nếu phân thành một hoặc hai vụ nổ để tính toán thì hệ số k hoàn toàn sai, không thích ứng với sự sắp xếp xa gần quỹ đạo của các Hành Tinh, vì thế tác giả phân làm ba vụ nổ mới thích ứng được với hệ số k). Điều đó khẳng định rằng: nếu xét về phân rã thì Mặt Trời phải nổ làm 3 lần thì mới sinh được 9 Hành Tinh và hệ Tiểu Hành Tinh. 11 Theo tài liệu mới nhất mà ngành thiên văn đã khảo sát được. Ngoài sao Diêm Vương của chúng ta còn vô số các Tiểu Hành Tinh. Như vậy bổ sung vào giả thuyết các Tiểu Hành Tinh này là những khối khí vụn trong vụ nổ thứ nhất của Mặt Trời, vì chúng bé nhất cho nên văng ra ngoài biên đĩa của hệ Mặt Trời.


Bảng hệ số tỷ lệ K với kích thước bán kính quỹ đạo
các Hành Tinh sau 3 vụ nổ



Theo tài liệu mới nhất mà ngành thiên văn đã khảo sát được. Ngoài sao Diêm Vương của chúng ta còn vô số các Tiểu Hành Tinh. Như vậy bổ sung vào giả thuyết các Tiểu Hành Tinh này là những khối khí vụn trong vụ nổ thứ nhất của Mặt Trời, vì chúng bé nhất cho nên văng ra ngoài biên đĩa của hệ Mặt Trời.


Vệ tinh ISS3



Kính thiên văn VLA006

└(≣) Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ ! 29 Tháng 10 2013 10:42 #2718

  • Lê ĐìnhQuỳ
  • không trực tuyến
  • Meteorite
  • Tổng số bài viết: 14
5. LÝ GIẢI NHỮNG HIỆN TƯỢNG
BÍ ẨN TRONG VŨ TRỤ
VÀNH ĐAI SAO THỔ


Sự hình thành vành đai sao Thổ:
Khi mới ra đời sao Thổ nóng sáng như một ngôi sao. Sau khi sao Thổ đã nổ ra được 10 vệ tinh để cân bằng mômen động lượng. Sao Thổ còn nổ ra một loạt các tiểu vệ tinh. Các tiểu vệ tinh này nằm trên mặt phẳng xích đạo từ của sao Thổ. Vành tiểu vệ tinh đó chuyển động tạo thành một chiếc đĩa dẹt xung quanh sao Thổ, cách sao Thổ một bán kính quỹ đạo.

Hình ảnh sao Thổ

Hệ Tiểu Hành Tinh này nhỏ nên chúng nguội đi rất nhanh. Các Tiểu Hành Tinh nhỏ chết trước bán kính quỹ đạo của nó tiến rộng ra nhanh hơn vì lực hấp dẫn yếu. Sự chuyển động của các tiểu vệ tinh đó có tốc độ khác nhau cho nên khi chúng tiến ra va đập vào nhau vỡ nhỏ dần và nhiều tỷ năm Hệ Tiểu Hành Tinh đó biến thành một đĩa bụi khổng lồ chuyển động thành vành đai sao Thổ. Chúng nằm trên mặt phẳng cân bằng xích đạo từ sao Thổ. Qua thời gian càng dài thì vành đai bụi mỏng bao quanh sao Thổ ngày cũng một tiến rộng ra mờ dần, có hình đĩa dẹt êlíp cách sao Thổ một bán kính quỹ đạo.Hệ tiểu vệ tinh đã hình thành vành đai sao Thổ như vậy. 11 Theo khảo sát thiên văn trên đĩa bụi màu đen của vành đai sao Thiên Vương còn sót lại một ít khối lượng nhỏ chưa va vụn, cũng có mầu đen. Điều đó chứng tỏ những tiên đoán trên có cơ sở. Các nhà khoa học cho rằng đĩa bụi được hình thành bởi những tảng thiên thạch rơi vào Sao Thổ và tung bụi ra ngoài tạo thành vành đai.


SAO MỘC
MỘT NGÔI SAO ĐẦY BÍ ẨN


Tại sao có những đới hầu song song chạy ngược chiều nhau trên sao Mộc? (Có ý kiến cho nó là những tảng băng chạy ngoài sao Mộc).
Theo giả thuyết này những đới hầu phải nằm trên bề mặt của nó. Sao Mộc là Hành Tinh lớn, ra đời sớm nên nguội rất lâu, nhiệt độ trong nhân còn rất cao: 1567270,3C. Trục tự quay của nó quay hết 9h55'. Sao Mộc là Hành Tinh lớn hơn Trái Đất rất nhiều lần mà tốc độ tự quay còn nhanh, chứng tỏ trên bề mặt sao Mộc đang ở trạng thái manti chảy lỏng, một số vùng đã đặc sệt hoặc khô cứng. Khi sao Mộc tự xoay quanh trục, vật chất ở các vùng có tốc độ trôi khác nhau nên tạo thành những đới hầu song song. Sự quay của các đới này có tốc độ khác nhau, ở chỗ manti chảy lỏng thì nó quay theo tốc độ cùng với nhân của sao Mộc.
Những khối đặc sệt hoặc đã khô cứng khi trôi bị ma sát và trượt trên khối manti chảy lỏng đó gây cho ta một ảo giác về sự chạy ngược chiều, với chiều tự quay của Hành Tinh.
Sao Mộc còn điều bí ẩn nữa: Các vật chất trên sao này có đặc tính nửa sao nửa Hành Tinh. Những vật chất như Heli, Hydro vẫn tồn tại, Hành Tinh còn rất nóng, lực hấp dẫn mạnh, nên áp suất của nó lớn, hai chất nhẹ đó vẫn chưa thoát được khỏi sức hút của nó. Các Hành Tinh bé lực hút yếu nên Hydro, Heli đã thoát ra ngoài khí quyển từ lâu rồi.


Sao Mộc

Ngôi sao “Thần sấm sét” có đầy dông sét, từ những đám mây không chỉ chứa nước, mà còn cả hỗn hợp Hydro và Heli nữa. Trái Đất của chúng ta cũng đã trải qua một thời kỳ lịch sử phát triển giống như hiện tượng của sao Mộc ngày nay. Sao Mộc có từ trường rất mạnh.

SAO KIM


Sao Kim là một Hành Tinh thuộc âm, ra đời cùng với Trái Đất nhưng lại chết trước Trái Đất.



Khối lượng của sao Kim gần bằng Trái Đất, nhưng vì nó thuộc điện tích âm chiếm ưu thế, ra đời từ bán cầu Nam của Mặt Trời cho nên tổng số proton so với tổng electron ít hơn, cho nên bức xạ nhanh hết nhiệt trong nhân của nó. Đến nay Hành Tinh này đã nguội gần hết. Theo tính toán của giả thuyết này nhiệt độ trong nhân chỉ vào khoảng 3860C. Nhân ở trạng thái đặc sệt, cho nên tốc độ tự quay của sao Kim rất chậm, phải mất 243 ngày mới được một vòng. Vì nó thuộc điện tích âm nên khí quyển của sao Kim u ám suốt ngày đêm, những sản phẩm chủ yếu là khí CO2, NO2, NH4, NH3O3,..., đó là di sản của khí được thoát ra từ sao Kim trong hoạt động để nguội dần (khí quyển sao Kim không biến thành nước được nên rất dày đặc, kính viễn vọng rất khó nhìn qua. Dự đoán trên bề mặt của sao Kim có rất nhiều miệng núi lửa rộng, mặt tương đối bằng phẳng. Sức nóng của sao Kim rất kém nên ít xảy ra các vụ nổ lớn. Sao Kim lớn gần bằng Trái Đất mà không có vệ tinh, điều đó chứng tỏ sao Kim thuộc âm lạnh. Sao Kim chuyển từ trạng thái khí nóng sang trạng thái lỏng rồi đến thể rắn chuyển hóa rất nhanh. Qua nhận xét trên ta kết luận từ trường của sao Kim rất yếu so với từ trường của Trái Đất, áp suất thấp, sự chết của sao Kim còn thể hiện: qua sự thay đổi nhiệt độ trên bên mặt rất nhanh chóng: trong một ngày đêm, ban ngày nhiệt độ lên tới 400-500 độ C, ban đêm xuống tới - 200 độ. Tức là Hành Tinh này đã khô cứng như những khối thiên thạch, nhiễm nhiệt rất nhanh và thải nhiệt rất nhanh. Tại sao sao Kim khi gần Trái Đất lại không tự quay, mà một phía của sao Kim luôn hướng về Trái Đất ? Hiện tượng này giống như Mặt Trăng luôn hướng về Trái Đất.

Hình ảnh trên bề mặt sao Kim
Qua trục tự quay của sao Kim và Mặt Trăng rất chậm, ta có thể kết luận hai thiên thể này đã chết nhiệt, lực tự quay của nhân yếu, cho nên không thắng được sức hút của Trái Đất, phần trọng lượng nặng nhất của thiên thể phải rơi về phía Trái Đất. Còn trước kia sao Kim và Mặt Trăng còn nóng, lực tự quay thắng được sức hút của Trái Đất thì không xảy ra hiện tượng này. Các hố trên bề mặt sao Kim là miệng núi lửa. không phải do thiên thạch rơi vào tạo thành.
Sao Kim là Hành Tinh chưa có nước và sự sống bao giờ vì nó thiếu rất nhiều những yếu tố cơ bản để tạo ra nước - môi sinh của sự sống. Hiệu ứng nhà kính rất lớn.

SAO HỎA


Sao Hỏa là một Hành Tinh bé hơn Trái Đất nhưng có nhiều đặc điểm gần giống Trái Đất, sao Hỏa cũng có mùa, có vệ tinh, có khí quyển, có hoạt động núi lửa, thời gian quay quanh trục cũng gần bằng thời gian của Trái Đất trên 24h quay được một vòng. Vì sao Hỏa có khối lượng nhỏ nên áp suất bé vì vậy nước không thể sinh ra trên bề mặt của nó được, mà chỉ ở dạng hơi băng. Sự sống, thảm thực vật không thể có được. Những loé bùng trên sao Hỏa cũng chỉ là sự bùng nổ của núi lửa mà thôi, không phải sự phản quang của kính những toà nhà cao tầng hoặc những tẳng băng khi có ánh sáng Mặt Trời. Sao Hỏa cũng có những đới song song, nó được tạo thành trong giai đoạn mácma chảy lỏng và những giai đoạn phun trào mácma của núi lửa, do tự quay mà tạo thành.


Từ trường của sao Hỏa yếu, chỉ bằng 1/2 Trái Đất. Trong nhân của sao Hỏa cũng có cấu trúc như nhân của Trái Đất, bao gồm những hạt nhân nguyên tử (nó cũng là vật chất tiền sao), nó là nguyên nhân của các vụ nổ chính trên sao Hỏa. Nhiệt độ của nhân sao Hỏa gần 35450,5C. Như vậy, có thể kết luận trên sao Hỏa cũng chưa có xuất hiện nước và sự sống bao giờ.

MẶT TRĂNG


Mặt Trăng được sinh ra từ bán cầu Bắc của Trái Đất nên Mặt Trăng thuộc dương tính, điều đó thể hiện rất rõ trên bề mặt của nó, còn để lại rất nhiều miệng núi lửa. Mặt Trăng ngày nay đã nguội hẳn, chết từ trường. Từ trường đã tự hoá vào đất đá của nó, từ trường bây giờ đo được bằng1/1000 Trái Đất.


Từ Mặt Trăng nhìn về Trái Đất

Mặt Trăng là một vệ tinh đã chết để lại âm chất nền đồng khí với nước, nên hút nước rất mạnh tạo ra thủy triều theo chu kỳ của nó. Tại sao trên Mặt Trăng không có những núi lửa có chóp cao như ở Trái Đất mà chỉ là những hố có gờ hình vành khuyên, dưới miệng hố lại rất bằng phẳng? Những miệng hố như vậy biểu hiện sự phun trào dung nham và khí từ trong nhân Mặt Trăng thoát ra, khí Mặt Trăng ở trạng thái manti đặc sệt. Khí của núi lửa được thoát ra từ nhân của Mặt Trăng tạo thành những cái gờ tròn hình vành khuyên, khi lắng xuống mácma trở thành một mặt phẳng và trong giữa miệng hố xuất hiện một lỗ thoát hơi cuối cùng. Mặt Trăng nhỏ hơn Trái Đất 88 lần, nên áp suất của nó nhỏ, khi bị vật chất mácma từ trong nhân Mặt Trăng thoát ra thì được cân bằng ngay, cho nên chỉ có gờ hình vành khuyên.


Ảnh chụp mặt bên kia của Mặt Trăng

Ta không loại trừ khả năng những thiên thạch rơi vào Mặt Trăng, nhưng nếu có thì hố đó không tạo thành bờ và bằng phẳng được, nó sẽ sâu, nông khác nhau. Trước kia khi áp suất của Mặt Trăng còn lớn Mặt Trăng cũng có khí quyển mỏng, chủ yếu là CO2. Khi Mặt Trăng đã chết nhiệt, từ trường, lực hấp dẫn kém thì bầu khí quyển dần dần tiêu tan. Các vật khi rơi xuống Mặt Trăng có rung động lâu là vì toàn bộ vật chất trên bề mặt của Mặt Trăng đã kết tinh ở thể rắn, không có các vật giảm âm như nước, đất, cây,...11 Khi những con tàu đi qua phía biển phần hướng về Trái Đất thì con tàu bị nhiễu loạn bởi những khối chìm nặng có lực hấp dẫn lớn. Đó là phần trọng lượng nặng nhất của nó nên phần này luôn rơi về Trái Đất một phía - Mặt Trăng không tự quay quanh trục như cách chứng minh của các nhà khoa học (TG).

SAO ĐÔI


Trong Thiên Hà các siêu sao trẻ thường nổ sinh ra sao đôi. Càng lùi thời gian về trước hiện tượng nổ trong Thiên Hà thường xảy ra luôn. Lúc đó nhiệt độ trong nhân Thiên Hà còn rất lớn bức xạ nhiệt, co về thể tích thường xảy ra nổ để cân bằng nhiệt động,và mô men động lượng. Còn các siêu sao trẻ đủ sức nổ lớn sinh ra sao đôi: Một sao nơtron, bao gồm kết cấu siêu đặc của các hạt nhân nguyên tử. Đó là nhân của siêu sao. Một sao nữa là sao bình thường: vật liệu của sao này là vật chất nhẹ, phía ngoài của siêu sao chủ yếu là Hydro và Heli. Sao nơtron có kết cấu siêu đặc hàng tỷ tấn trên 1cm3. Khi còn nóng nó quay rất nhanh vì chủ yếu cấu trúc là những dòng hạt prôton, nơtron. Sao này khi chết nhiệt không phát ra ánh sáng gọi là các hố đen, những hạt nơtron và proton có kết cấu rất siêu đặc, nên lực hấp dẫn rất mạnh, uốn cong không gian.
SAO CHỔI
Sao chổi là hiện tượng bí ẩn trong các Hành Tinh thuộc hệ Mặt Trời. Có thể gọi sao chổi là hiện tượng diệt vong của các thiên thể trong đại Thiên Hà. Hiện nay sự tàn lụi của Vũ Trụ đang ở mức độ thấp, chỉ mới là sự chết của các vệ tinh. Khi một Vệ tinh đã chết nhiệt dẫn đến chết lực hấp dẫn và Hành Tinh mẹ không đủ lực để giữ nó nữa, vệ tinh này càng lùi ra xa Hành Tinh mẹ, và cuối cùng buộc phải rơi với vận tốc rất lớn, nhưng không thể thoát được sức hút của Mặt Trời, vệ tinh chết này biến thành Hành Tinh của Mặt Trời, trên đường đi do ma sát với khí quyển Mặt Trời, tốc độ lớn bị đốt cháy, vật chất lại trở về dạng chất khí. Hiện tượng đó gọi là sao chổi. Cái đầu của nó như một quả cầu màu xám. Đó là vật chất bị cháy tập trung vào trong biến thành cái nhân sáng. Đôi khi sao chổi nổ vỡ thành nhiều mảnh con, tạo thành một tập đoàn. Mỗi lần sao chổi tiến đến khí quyển Mặt Trời, do ma sát với khí quyển, nên mới xuất hiện các đuôi sáng ngày một dài ra. Chỗ gần Mặt Trời là cái đuôi dài nhất, rồi lại ngắn dần.. Qua nhiều lần như vậy, sao chổi dần dần sẽ mất hết vật chất, không trở lại quỹ đạo nữa. Sao chổi là một vệ tinh chết nên có quỹ đạo hypecbon rất dẹt và không bao giờ sao chổi đi trên mặt phẳng xích đạo với Mặt Trời, vì lực hấp dẫn yếu. Cái đuôi của nó là những chất khí nhẹ như Hydro, Maetan, Photpho, Lưu huỳnh, Canxi, Kali,... do áp lực của ánh sáng Mặt Trời nên khí nhẹ này chìa cái đuôi ra ngoài, và cái đuôi của nó có thể kéo dài hàng triệu kilômét.

Hình ảnh sao chổi


SAO BĂNG


Hiện tượng ban ngày người ta cho là “đĩa bay”.
Ban đêm mỗi khi thấy một "ngôi sao" cháy rực kéo theo một cái đuôi sáng xanh, ta thường cho là “sao đổi ngôi”. Hiện tượng này là những tảng thiên thạch bay vào khí quyển, bị rơi vào sức hút của Trái Đất, trên đường đi ma sát với không khí nó bốc cháy, nên có hiện tượng như vậy. Có hai loại thiên thạch:
1- Thiên thạch sắt
2- Thiên thạch silicát.
Thiên thạch rơi vào Trái Đất chủ yếu là thiên thạch của sao Hỏa, Mặt Trăng và địa quyển của Trái Đất. Đó là những thạch quyển tung vào không gian trong kỷ Pecmi khi Trái Đất bị nổ.
Thiên thạch sắt là loại thiên thạch được nổ ra từ lớp sau dưới manti nặng, thiên thạch silicát là thiên thạch được nổ ra vật chất từ lớp ngoài của manti nhẹ.

Sao băng
Hiện tượng thiên thạch rơi ban ngày với tốc độ lớn trên đường đi xoáy theo hình đĩa sáng loáng, hiện tượng mà có nhiều người quan sát được cho là “đĩa bay”, nhưng thực ra cũng là những tảng thiên thạch mà thôi.

SAO THỦY


Sao Thuỷ là Hành Tinh bé nhất trong các Hành Tinh thuộc hệ Mặt Trời, ra đời sau nhưng đã chết trước. Vì vậy, hiện nay sao Thủy chỉ hướng về Mặt Trời một phía, có nghĩa là lực tự quay của sao Thủy không còn nữa, cho nên có thể kết luận: sao Thủy từ trường rất yếu, nó không có khí quyển, vật chất chủ yếu cũng như Mặt Trăng mà thôi, nhưng sao Thủy có núi lửa, tuy nhiên không cao như ở dưới Trái Đất, chỉ tạo thành những gờ tròn hình vành khuyên như trên Mặt Trăng và cao hơn. Áp suất của sao này rất thấp, nhiệt độ ngày đêm thay đổi rất lớn. Từ trường đã bị từ hóa vào đất đá như hiện tượng trên Mặt Trăng.

SAO DIÊM VƯƠNG


Sao Diêm Vương là Hành Tinh nằm ngoài biên đĩa của hệ Mặt Trời. Sao này từ trường rất yếu, nhiệt cũng rất yếu, không có khí quyển, áp suất thấp, lực hấp dẫn kém cho nên quỹ đạo của sao này đi rất chếnh choáng trên mặt phẳng với xích đạo từ của Mặt Trời. Sao Diêm Vương vẫn có từ trường nhưng yếu.

└(≣) Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ ! 09 Tháng 11 2013 17:43 #2733

  • Lê ĐìnhQuỳ
  • không trực tuyến
  • Meteorite
  • Tổng số bài viết: 14
TẠI SAO CÁC HÀNH TINH HOẶC CẢ MỘT THIÊN HÀ
LẠI QUAY THEO QUỸ ĐẠO ELIP?


Nếu tâm quay là nhân Thiên Hà hay Mặt Trời đứng yên một chỗ thì quỹ đạo của các thiên thể theo hình tròn và đồng tâm. Ví như gốc đại Thiên Hà của chúng ta đứng taị một chỗ, thì hàng tỉ các Thiên Hà ngày nay chuyển động trên quỹ đạo tròn xung quanh tâm gốc. Còn các Thiên Hà ngày nay đang chuyển động với tốc độ rất lớn thì các hệ sao phải đuổi theo tâm gốc, nên Thiên Hà có cấu trúc hình elip là vì vậy. Cũng như hệ Mặt Trời của chúng ta: Mặt Trời đang chuyển động với tốc độ 230km/s cho nên các Hành Tinh quay xung quanh Mặt Trời đuổi theo nên cấu trúc quỹ đạo có hình elip. Vì lý do như vậy nên chúng có tâm sai quỹ đạo. Do khối lượng của Mặt Trời và khối lượng của các Hành Tinh không thay đổi cho nên quỹ đạo rất ổn định.



Thiên Hà M31




6. GIẢ THUYẾT
VỀ NGUỒN GỐC BÍ ẨN CỦA BÃO



Khám phá đại dương và khí quyển vùng nhiệt đới còn nhiều bí ẩn. Riêng nguồn gốc của bão đã có nhiều giả thuyết của các nhà khí tượng trên thế giới đưa ra. Nói chung lý thuyết của bão đề cập chủ yếu đến nguyên nhân hình thành. Đó là sự chênh lệch khí áp (cao và thấp) giữa hai khối lượng không khí khổng lồ. Kết hợp với trị số Pamen và lực Coriolit hoặc thuyết “Đối lưu nhiệt”, thuyết “Sóng trên Pron” hay thuyết “Ba áp cao tạo ra một áp thấp”.
Nhưng các lý thuyết chưa làm sáng tỏ nguồn năng lượng lớn ban đầu do đâu tạo ra trên các đại dương phù hợp với khảo sát, hoặc giải thích nguồn gốc 5 ổ bão chính.
Trong giả thuyết này, đưa ra một quan điểm mới về nguồn gốc năng lượng khổng lồ, tạo ra nhiệt có tiềm ẩm cao trong các ổ bão ở đại dương, là do nhiệt từ nhân Trái Đất bức xạ một lượng photon rất lớn thẩm thấu qua nước biển làm cho biển bốc hơi tạo thành những tâm bão. Nhưng để tạo ra bão chỉ riêng điều kiện đó chưa đủ mà kèm theo các yếu tố của Mặt Trời, lục địa, khí quyển và đại dương.
Lực tự quay và chuyển động của Trái Đất.
Những yếu tố đó nhằm giải thích: bão là “con đẻ” của đại dương, bão có mùa, bão không xuất hiện trên vùng gần xích đạo, bão dịch chuyển theo theo vĩ độ địa lý, nguyên nhân có 5 ổ bão chính. Giả thuyết này mô tả lịch trình của một trận bão, từ lúc phát sinh, phát triển, tới lúc hủy diệt,...
Giả thuyết đã dựa trên các dữ kiện đã khảo sát được trong khí tượng, về bão, khảo sát đại dương, vật lý thiên văn đặc biệt, là giả thuyết mới về nguồn gốc và cấu trúc Trái Đất, để xây dựng mô hình lý thuyết tổng quát về bão và lịch sử của bão ra đời vào kỷ nào trên Hành Tinh của chúng ta.
NGUỒN GỐC CỦA BÃO
Nguồn gốc của bão chia làm hai phần chính:
1- Nội lực của Trái Đất (bao gồm các hoạt động trong nhân Trái Đất, địa nhiệt, thủy quyền, lực Coriolit và Trái Đất chuyển động trên hoàng đạo).
2- Ngoại lực của Mặt Trời (bao gồm các hoạt động của Mặt Trời theo chu kỳ 11 năm, Mặt Trời tạo ra khí áp chênh lệch, khi Trái Đất đi nghiêng trục và di chuyển theo hoàng đạo).

NỘI LỰC CỦA TRÁI ĐẤT


Để xây dựng lý thuyết về bão, giả thuyết này đề cập đến nguồn gốc của Trái Đất nhằm mục đích giải thích cấu trúc và hoạt động trong nhân, là nguồn cung cấp năng lượng khổng lồ cho bão.
Trái Đất ra đời từ Mặt Trời, trong vụ nổ thứ hai, nên đã trải qua ba trạng thái vật chất từ thể khí nóng sang thể khí lỏng, rồi đến thể rắn. Nay đã hình thành một lớp vỏ cứng, trong nhân ở trạng thái lỏng manti và siêu lỏng trong tâm. Nhiệt độ vào khoảng 3.50000- 40000C (theo tài liệu khảo sát của Liên Xô cũ). Chính nguồn nhiệt năng này đang bức xạ liên tục, hoạt động đối lưu trong lớp manti, nên thường sinh ra các vụ nổ ngầm, động đất, núi lửa, các dòng hải lưu... Đặc biệt là các ổ bão, hoạt động trên xảy ra là do vỏ Trái Đất co lại, gây áp suất lớn, biến các nguyên tử chuyển từ động năng sang nhiệt năng cho nên chu kỳ bức xạ lại không đều theo thời gian và trên diện cầu có nơi nhiều, nơi ít. Các điện tích dương trong nhân thuộc bán cầu Bắc hoạt động rất mạnh và chiếm ưu thế, nên trên lục địa ở bán cầu Bắc xảy ra thường xuyên động đất và bão.
Nhân của Trái Đất tự quay xung quanh trục, do tổng mômen của các hạt proton và nhiệt quyết định. Khi tự xoay có sự phân bố điện tích. Một nửa bán cầu chứa điện tích ion dương còn một nửa bán cầu chứa điện tích ion âm. Điện tích ở hai bán cầu cân bằng nhau về lực điện. Nay đã xác định được địa cực từ Bắc giao điểm giữa kinh tuyến Tây 1000 với 750 vĩ Bắc, địa cực từ Nam giữa kinh tuyến Đông 1400 với 680 vĩ Nam, trục từ nằm lệch về phía Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, lệch với trục địa lý một góc 11,50 nên nhân Trái Đất lệch về phía Thái Bình Dương, vùng biển này nhiệt bức xạ rất mạnh (4 ổ bão chính đều tập trung ở vùng này: ở Philipin hố Mariang lại sâu, nên bão có tỷ lệ rất cao so với toàn cầu).
Để giải thích các tâm nóng, không xuất hiện ở gần xích đạo, tác giả giải thích các hoạt động cuả các dòng hạt chuyển động trong nhân lỏng của Trái Đất như sau:
Như trên đã phân tích nhân lỏng được phân bố điện tích ở bán cầu Bắc, cũng như ở bán cầu Nam, cân bằng về lực điện, cho nên mặt phẳng tưởng tượng qua nhân trong khối cầu lỏng là lưỡng cực, nơi tiếp giáp hai miền điện tích trái dấu, có lực cân bằng triệt tiêu = 0. Từ 00 đến 50 bán cầu Nam, các dòng hạt nguyên tử chuyển động chậm, do bị hãm bởi từ lực, vùng này nhiệt năng kém hơn so với nhiệt độ ở các vĩ độ từ 50 đến 400 vĩ Bắc hoạt động mạnh. Chú ý bán cầu thuộc dương, các prôton hoạt động nhanh hơn nên nhiệt năng sinh ra nhiệt lớn, vì vậy ở bán cầu Bắc thường xuyên xảy ra bão lớn, bán cầu Nam ít và yếu kể cả động đất, núi lửa,...
Hiện tượng đó đúng như quy luật hoạt động của Mặt Trời 11 năm, các vết đen chỉ xuất hiện từ 50 đến 400 vĩ Bắc hoặc Nam. Ở bán cầu Bắc, Mặt Trời thường xuyên nổ. Về ngoại lực, vùng xích đạo vào mùa thu Mặt Trời vẫn còn nóng, không khí tương đối điều hoà, ít có khí áp cao nên không tạo ra sự chênh lệch lớn về khí áp, gió tương đối nhẹ, hai lý do trên nên gần xích đạo không bao giờ xảy ra bão. Ngoài ra, từ 00 - 50 vĩ cực Coriolit bị triệt tiêu, nên không có lực ban đầu.
Theo giả thuyết này từ kỷ Cacbon trở về trước, Trái Đất đi thẳng trục nên chưa có mùa (cây chưa có vòng, động vật thú chưa có lông mới có các loài bò sát) khí hậu tương đối đồng đều nóng và ẩm chưa có bão ở dạng bão đại dương. Đến kỷ Pecmi - Triat xảy ra một vụ nổ nguyên tử trong nhân, nên vật chất trên địa cầu phân bố không đều: Bắc bán cầu lục địa chiếm ưu thế, từ đó Trái Đất đi nghiêng trục, bốn mùa được hình thành, bão đại dương cũng “ra đời”, và nhân nóng dồn biển Thái Bình Dương nơi hốc nổ, nên nhiệt bức xạ trong biển Thái Bình Dương rất mạnh, đây là vành đai lửa.
Về nội lực của Trái Đất còn một yếu tố quan trọng tạo ra bão, đó là thuỷ quyển. Vì vậy bão mới sinh ra chỉ ở đại dương, mà không phải trên lục địa, các dòng photon từ nhân bức xạ thẩm thấu qua bề dày của đại dương, hun nóng làm cho nước bốc hơi mạnh, tạo ra tiềm ẩm khổng lồ gần tâm bão, mây dày đặc, cao tới chục kilômét, rộng hàng nghìn kilômét vuông. Tiềm ẩm đó tạo ra các dòng giáng, thăng rất mãnh liệt, gió có thể đạt tới 200km/h kèm theo mưa nhiều. Diện tích, thời gian, cường độ gió và cấp bão lớn hay nhỏ, phụ thuộc vào khối lượng bức xạ nhiệt, và độ tiềm ẩm với sự chênh lệch khí áp trong khí quyển, biểu hiện ở tâm bão to hay nhỏ, sâu hay nông, vì những lý do đã phân tích. Do nội lực hoạt động của nhân, cho nên có năm nhiều bão, bão lớn, có năm ít và có những năm không xảy ra như năm 1976, và 1982. Bão cũng có chu kỳ, có quan hệ đến động đất núi lửa.

NGOẠI LỰC CỦA MẶT TRỜI


Một yếu tố không kém phần quan trọng tạo thành bão, đó là Mặt Trời. Mặt Trời đã tạo ra mùa bão, tạo ra sự chênh lệch khí áp trong khí quyển, do Trái Đất đi nghiêng trục, mùa hè Mặt Trời đốt nóng lục địa tạo ra áp thấp và mùa thu lục địa ít nhiễm nhiệt, tạo ra khí áp cao, cho nên mỗi khi đại dương xuất hiện một tâm nóng, tiềm ẩm tạo thành một áp thấp nhiệt đới, có sự chênh lệch lớn về khí áp, nên bão hình thành ngay. Mùa đông khi đại dương xuất hiện các tâm nóng, nhưng bị bão hoà nhiệt ngay, do không khí lạnh, các dòng nước lạnh tiêu diệt nên cũng không có bão mà chỉ tạo thành áp thấp nhiệt đới. Mùa xuân lục địa được sưởi ấm, khí áp trung bình nên bão cũng không hình thành. Các yếu tố tạo nên sự chênh lệch khí áp trong khí quyển có quan hệ mật thiết với nhau: Mặt Trời, lục địa, thủy quyển, nhân Mặt Trời, Mặt Trăng,... Cho nên bão dịch chuyển theo thời gian trong mùa và theo vĩ độ địa lý là vì vậy.
Những năm Mặt Trời hoạt động mạnh cũng có ảnh hưởng đến sự thay đổi khí hậu nên bão cũng có quan hệ đến các vết đen. Trong thời kỳ Mặt Trời hoạt động thì bão lại mạnh hơn là vì sau những năm đó nhiệt năng toả xuống Trái Đất kém hơn, nên các vùng áp cao trên lục địa lớn hơn thì bão càng mạnh.
Mặt Trăng dù ít hay nhiều cũng tham gia vào sự thay đổi khí hậu trên Hành Tinh. Đó là sự thay đổi của các chu kỳ thủy triều và gia tăng thêm phần làm lạnh khí quyển xung quanh Trái Đất, cũng làm cho bão thêm mạnh, mỗi khi Mặt Trăng gần các miền có bão trong tháng.
Những yếu tố để chứng minh bão sinh ra theo mùa. Ở bán cầu Bắc từ tháng 6 đến tháng 11, bán cầu Nam từ 2 tháng đến 3 tháng, bão không xuất hiện trên gần miền xích đạo, giải thích nguyên nhân sinh ra 5 ổ bão đó là Tây Bắc Thái Bình Dương, Tây Nam Thái Bình Dương, Bắc Ấn Độ Dương, Nam Ấn Độ Dương và Tây Bắc Đại Tây Dương. Và cũng giải thích vùng áp thấp nhiệt đới trong mùa đông ở đại dương là do nhiệt từ trong lòng đất cung cấp là chính.

7. LỊCH TRÌNH CỦA MỘT TRẬN BÃO


Bão có ba giai đoạn phát triển:
Giai đoạn phát sinh
Giai đoạn phát triển cực đại
Giai đoạn diệt vong

GIAI ĐOẠN PHÁT SINH


Mỗi khi xuất hiện một vùng nóng từ đáy đại dương, làm cho cả vùng nước dưới biển nóng lên đột ngột, tạo ra hệ thống đối lưu mạnh. Nước nóng từ dưới tuôn lên trên mặt biển, kéo theo bùn đất, rồi lan toả ra các vùng lân cận có thể rộng tới 1000km. Biển động dữ dội réo lên ầm ầm. Do sóng ngầm rất mạnh, khí nóng truyền lên trên mặt biển tạo thành các sóng đầu tròn có khoảng cách rộng, và nhịp nhàng truyền đi rất xa, hàng nghìn kilômét, nước biển có độ nhớt nhiều, hôi tanh, thậm chí cá chết rất nổi lên hàng loạt kéo dài tới 100km, chim bay đi khỏi vùng bão, vì hơi nước nóng bốc lên dữ dội, khối khí nóng và tiềm ẩm đẩy lên rất cao, trung bình 10km, trên vùng trời sắp có bão thì xuất hiện nhiều loại mây, có vùng tạo thành sợi như hình đuôi ngựa, hoặc giống vảy tê tê màu sắc rất đẹp.
Theo phân loại của ngành khí tượng đó là những loại mây vũ tích (CB), vũ tằng (NS), mây tích (Cu), mây Ti tằng (SC). Những loại mây này xoáy vào tâm theo hình xoáy ốc. Trường mây này phản ánh hướng chuyển động của khí quyển trên cao.
Đã có nhiều công trình khoa học mô tả hệ thống cấu trúc của trường mây xung quanh tâm bão, tìm ra những dữ kiện tiêu chuẩn để đánh giá và chia quá trình phát triển của nó thành nhiều giai đoạn phân loại khác nhau. Trong bài viết của tác giả Trần Đình Bá phân tích đặc điểm của hệ thống mây bão trên biển Đông. Hệ thống mây bão được mô tả như hình “đĩa” hay “dấu phẩy” hội tụ về tâm, hình dạng ban đầu của “mắt bão” trong đĩa mây thông qua kích thước, độ đậm đặc, độ nhẵn,... để đánh giá cường độ của bão. Theo D.Voraka hệ thống mây bão có hai phần:
- Hệ thống mây dày đặc ở trung tâm
- Giải mây vòng ngoài
Hệ thống này tác giả phân ra ba loại khác nhau :
- Loại băng cuốn (mặt hình giải)
- Loại mây dày đặc trung tâm
- Loại mây dày đặc lệch tâm
Đặc tính của ba dạng mây này khái quát chung cho bão toàn cầu, ở một số vùng biển khác, trường mây đa dạng hơn.
Hệ thống mây bão tác giả phân làm 5 loại:
- Loại “băng cuốn”
- Loại “đĩa mây”
- Loại “khối mây lệch tâm”
- Loại hai dải đối xứng
- Loại tiềm cận với Proat cực
Trong bối cảnh như trên, lực Coriolit (lực tự quay của Trái Đất) tạo ra hướng xoáy ban đầu.

GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN


Khi xuất hiện một vùng khí áp thấp bốc lên cao rất mạnh, khí áp cao hơn các vùng phụ cận lao tới vùng tâm bão, cấp gió tăng dần, làm cho mẫu hình mây khu vực trung tâm hoàn chỉnh, đạt đến giai đoạn có mắt bão trên “đĩa mây”, cho tới lúc “mắt bão” chiếm vị trí đối xứng của “đĩa mây”.
Trong tâm bão nhiệt độ cao, các hạt photon làm cho hơi nước chuyển động rất nhanh, tạo ra mômen quay trong vùng tiếp cận nhân bão, kết hợp với khối khí áp cao hơn tràn tới làm cho cấp gió gần tâm siêu tốc nhất so với các vùng kế cận: Do khối mây khí tập trung mạnh dồn ép tâm bão thu hẹp và tròn hơn, làm cho các dòng giáng, thăng ngày một bốc lên dữ dội, cho nên “mắt bão” quang mây vì tâm bão khí áp đồng đều nên lặng gió, nhưng nó đóng vai trò hút gió nhiều phía vào tâm rất mãnh liệt. Lúc này khí áp ở trung tâm thấp nhất đạt từ 800-900 mb (mb: milibar, đơn vị đo khí áp). Khi bão đạt đến cấp cao nhất thì các đường đẳng áp mật độ càng sít. Tâm bão lớn và càng sâu thì bão to và dài ngày, sức gió siêu tốc nhất có thể đạt tới 200km/giờ ở gần tâm bão có những vùng có đường đẳng áp dị dạng sức gió yếu hơn và ngoài cùng thì yếu hơn nữa.
Trong giai đoạn bão đang phát triển, tiềm ẩm và nhiệt trong đại dương vẫn tiếp tục cung cấp mây càng dày đặc, mưa càng mạnh, tâm bão lớn có “mắt” đường kính tới 100km, mây xung quanh phát triển rộng tới 1000km. Chế độ gió của bão nhiệt đới ở bán cầu là gió xoáy vào tâm theo chiều thuận dương (ngược chiều kim đồng hồ) không khí ở tầng dưới chạy vào giữa theo những đường xoắn ốc, vào tới vùng khí áp thấp nó lại leo lên cao, không phải bằng đường thẳng mà bằng những đường đinh ốc, và thoát ra ngoài bằng những đường xoắn ốc khác. Do không khí nóng thăng (trèo lên) gây ra chính giữa một luồng gió.
Các hướng gió trong một trận bão:
- Bão ở bán cầu Bắc có hướng gió ngược chiều kim đồng hồ.
- Bão ở bán cầu Nam có hướng gió thuận chiều kim đồng hồ, yếu tố này do Trái Đất tự quay quanh trục (lực Coriolit) tạo ra hướng xoáy ban đầu. Nó tương tự như hiện tượng tín phong trong khí quyển ở hai bán cầu luôn luôn trái ngược nhau.
- Bão ở Bắc bán cầu tạo thành xoáy thuận chiều của gió lệch với đường đẳng áp một góc nhỏ (100 đến 150).
Xét một tâm Bão ở các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc.
+ Ở góc từ Đông đến Bắc của tâm bão thì gió từ Đông tới
+ Ở góc Tây Bắc thì gió từ hướng Bắc tới
+ Ở góc Tây Nam thì gió từ hướng Nam tới
+ Ở góc Đông Nam thì gió hướng Nam tới
Nếu bổ đôi tâm bão, thì gió ở góc Đông là mạnh nhất vì vùng đó gần miền cao áp tạo thành dòng xiết.
- Tốc độ gió trong bão thay đổi theo vĩ độ: bão càng dịch lên phía Bắc, vùng tiếp giáp với cao áp tốc độ gió càng lớn.
- Tốc độ bão và hướng dịch chuyển của tâm bão phụ thuộc vào khí áp cao ở các vùng xung quanh. Khí áp cao ở vùng nào mạnh hơn thì tâm bão dịch chuyển về vùng khí áp yếu hơn. Khi cân bằng thì bão dừng lại và lại đổi hướng theo quy tắc trên.
Đường đi của bão thường là parabôn, thỉnh thoảng có hình nút, hay gấp khúc, có cơn lại gần trùng với đường vừa đi qua hoặc “Tây tiến” (chỉ một mạch đi thẳng hướng Tây).


GIAI ĐOẠN DIỆT VONG


Tuổi thọ của bão (kéo dài ngắn hay dài) phụ thuộc vào nguồn năng lượng địa nhiệt cung cấp ban đầu, để tạo ra lượng tiềm ẩm nhiều hay ít. Nếu gặp không khí lạnh tràn vào tâm thì cũng bị bão hoà nhiệt và tan ngay. Vì những lý do trên, nên khi bão vào lục địa lại chóng diệt vong, vì bão “mất chân” đó là nguồn cung cấp nhiệt và tiềm ẩm ở biển, yếu tố thứ hai là bị ma sát với vùng lục địa có vật cản nhiều.
Khi bão vào đất liền khối lượng nóng còn lại ít chẳng mấy chốc bị bão hoà nhiệt nên tan nhanh chóng.
+ Những trường hợp riêng của bão:
Nếu ở đáy đại dương xuất hiện đồng thời hai hoặc ba tâm nóng thì sinh bão kép. Theo nghiên cứu của Fugioara và Haouýt: trường hợp bão đôi khi xuất hiện có sự tương tác lẫn nhau, chúng quay quanh nhau và hấp dẫn nhau. Khi tới gần lực tác dụng tương hỗ tăng lên bão càng mạnh hơn nhiều.
+ Hướng đi chính của bão:
Bão thường dịch chuyển từ Đông sang Tây, hoặc Tây Bắc là vì Trái Đất chuyển động trên quỹ đạo và tự quay quanh trục tốc độ quay của Trái Đất nhanh hơn khối mây khí bão, độ cao cách mặt đất khoảng 10km, vì những lý do trên nên bão hay tiến từ biển vào lục địa. Bão thường vào ban đêm là vì từ chỗ xuất hiện tâm bão đến lục địa có khoảng cách phù hợp với tốc độ dịch chuyển của bão cộng với tốc độ tự quay của Trái Đất. Tốc độ bão đi chậm hơn tốc độ quay (theo kinh độ) của Trái Đất.

SUY NGHĨ SAU GIẢ THUYẾT


Nếu theo quan điểm của giả thuyết trên, nguồn năng lượng của bão xuất phát từ nhân Trái Đất thẩm thấu qua nước đại dương, thì những nơi hay xuất hiện những ổ bão chính chúng ta có thể đặt những máy móc tự báo nhiệt độ nước biển khi tăng lên. Qua số liệu chúng ta có thể dự báo được hiện tượng bão và cấp bão ngoài những quả cầu thám không tham gia dự báo.
Có như vậy chắc dự báo sẽ được chuẩn xác hơn nhiều.

8. MẬT MÃ VŨ TRỤ


Từ thế giới vô hình đến thế giới hữu hình đã trải qua nhiều tỷ năm phát sinh và phát triển.
Để trở lại tìm hiểu quá khứ của Vũ Trụ, chúng ta tìm hiểu những mật mã của nó đã di truyền trong thế giới xung quanh chúng ta ở những khoảng không gian Vũ Trụ trong tầm mắt viễn vọng hiện đại và quy luật vật chất của thế giới vi mô. Trái Đất là nơi tích tụ nhiều mật mã nhất trong Vũ Trụ.
Những mật mã đã di truyền vào đời sống Trái Đất:
Tất cả những sự sinh sôi của thực, động vật phải do hai đối lực: điện tích âm và điện tích dương phối hợp trong một điều kiện nhất định mới sinh ra được. Tức là ta muốn nói đến tính chất đực, cái trong thực, động vật,...(trừ một số ít loài ngoại lệ qua khâu trung gian). Đó là mật mã chính trong quy luật tiến hoá từ thế giới vô hình chuyển sang thế giới vật chất hữu hình. Chúng ta tìm hiểu đặc tính của điện tích âm và điện tích dương (tức là quy luật âm, dương của vật chất). Nó có những lý tính đối lập nhau nhưng không bao giờ tách khỏi nhau trong vật chất. Quy luật này được nhiều triết gia ở phương Đông đề cập vào nền triết học của họ. Những ý niệm đó đều phù hợp với những quan sát các hiện tượng trong thế giới vi mô và vĩ mô. Nó là nguồn gốc sinh ra Vũ Trụ từ vô hình đến hữu hình. Đặc tính bí ẩn của hai điện tích dương và âm. dương nóng, âm lạnh, dương chuyển động nhanh, âm chuyển động chậm, dương đi lên, âm đi xuống, dương đi ra, âm đi vào, dương sáng âm tối. Dương mạnh hơn âm rất nhiều lần nó là tâm quay của âm, dương số lẻ, âm số chẵn: 1, 3, 5, 7, 9,... thuộc dương; 2, 4, 6, 8, 10,.. thuộc âm. Quy luật này thể hiện trong nguyên tử các vòng điện tử âm ở trị số chẵn 2, 4, 6, 8, 10,... các đặc tính điện tích âm và dương luôn biểu hiện ở mọi hiện tượng, mọi chuyển động, tạo nên hình khối, màu sắc, nó là yếu tố quyết định sự sinh ra lớn lên rồi đến diệt vong trong thế giới tự nhiên. Đặc tính của dương là chiều xoáy thuận chiều xoáy của âm nghịch. Các xoáy khí trong khí quyển, kể cả bão cũng như các vết đen xuất hiện trên Mặt Trời có quy luật như vậy.
Dương bao giờ cũng là tâm xoay của âm kể từ nhân nguyên tử là proton tâm xoay của electron, Hành Tinh nào lớn là dương, nó là tâm xoay của những thiên thể nhỏ bé hơn, nhưng nó lại là âm so với những thiên thể lớn hơn nó. Ví dụ: Mặt Trăng là âm so với Trái Đất, nhưng Trái Đất lại là âm so với Mặt Trời, Mặt Trời là âm so với tâm Thiên Hà và cứ như vậy cho tới gốc đại Thiên Hà lớn nhất là tâm xoay của đại Vũ Trụ.

9. SỰ TẠO THÀNH VŨ TRỤ


Để xây dựng được “Giả thuyết mới về sự hình thành hệ Mặt Trời” một cách lô gíc chúng tôi phải lần về quá khứ xa xăm hàng vài chục tỷ năm để tìm lại “cụ tổ” (tức là gốc Vũ Trụ) đã được sinh ra như thế nào? Chúng tôi giới thiệu tóm tắt những ý tưởng mới, khác với quan điểm về “Vụ nổ lớn” (Big Bang) của các nhà khoa học đã đưa ra.
Phải thừa nhận trong tiền Vũ Trụ đã xảy ra một vụ nổ lớn. Nhưng chúng tôi vẫn có nhiều thắc mắc.
“Vụ nổ lớn” tạo thành các Thiên Hà ngay. Vậy khi chưa có vụ nổ, vật chất ban đầu là gì? Có hình thù ra sao? Chứa các nguyên tố nào? Và tại sao lại nổ? Các nhà khoa học vẫn chưa giải đáp được những câu hỏi đó.
Trong giả thuyết về sự hình thành Vũ Trụ này chúng tôi sẽ trình bày quan điểm mới về “Vụ nổ lớn”.
Vũ Trụ chuyển từ trạng thái các điện tích không nhìn thấy, bằng một Vũ Trụ nhìn thấy khối lượng và năng lượng. Chúng tôi đã mô phỏng vụ nổ đúng như dạng sét hòn (sét cầu) trong khí quyển khi có mưa lớn trên Trái Đất, (các vùng Ion âm và dương phóng điện vào nhau tạo ra quả sét nóng sáng và cuối cùng lại nổ). Có thể nói “sét cầu” là mật mã di truyền của sự tạo nên Vũ Trụ thời quá khứ bằng một vụ “sét Vũ Trụ ”, tổng hợp giữa hai khối Ion Hydro âm và dương.


Thiên Hà xoáy ốc M81


Giai đoạn tiền Vũ Trụ, lúc chưa hình thành. Đại Thiên Hà bao gồm một bầu chất khí hỗn nguyên. Vật chất cơ bản của tiền Vũ Trụ là khí Hydro nhưng chúng ở trạng thái Ion dương và Ion âm. Nguyên tử Hydro có hai hạt gốc của Vũ Trụ, đó là prôton và electron có điện tích bằng nhau. (Quy luật của tự nhiên: hai đối lực này cân bằng nhau về điện tích, nhưng lại chênh lệch nhau về khối lượng). Hạt prôton không thể ở trong trạng thái tự do của tiền Vũ Trụ được, mà chúng sẽ tóm bắt hạt electron vì chúng luôn luôn hấp dẫn nhau và có lý tính hoàn toàn đối ngược, để tạo nên nguyên tử Hydro. Đó là tiền vật chất của Vũ Trụ, hay còn gọi là “vật chất tiền sao”.
Nhưng nếu Hyđro trung hòa thì không thể nén chúng lại để tạo ra đại Thiên Hà được.
Đặc tính của các Ion Hyđrô dương: Nhẹ, chuyển động nhanh, hướng chuyển động thuận. Hướng chuyển động của hạt như vậy là do mô men tự quay của proton quyết định.
Đặc tính của Ion Hyđrô âm: Nặng, lạnh, chuyển động chậm hơn Hyđrô dương, hướng chuyển động theo chiều nghịch với Hydro âm gồm có: 2 electron và 1 proton. 11 Theo lý thuyết của giả thuyết này proton có chiều tự quay ngược còn electron có chiều quay thuận. Chiều tự quay đó đã được khảo sát bằng thực nghiệm của Đirắc: Khi ông bắn phá nguyên tử Hydro, prôton đi sang phía trái, electron đi sang phía phải. Hướng chuyển động như vậy do mô men tự quay của hạt quyết định.
Do đặc tính của các Ion Hydro như vậy cho nên sự vận động của các đám mây Ion trong Vũ Trụ tạo thành những xoáy khí mang điện tích có hướng ngược chiều nhau. Xoáy khí Ion Hydro dương tập hợp ngày một lớn và chuyển động về một phía. Các Ion âm Hydro đi sang một phía.
Vật chất tiền Vũ Trụ được tạo thành hai vùng điện siêu khổng lồ và mang điện tích trái ngược nhau.
Một vùng thuộc dương, Ion dương.
Một vùng thuộc âm, Ion âm.
Khối lượng và điện tích của hai vùng đó tương đối bằng nhau. Như vậy trong Vũ Trụ sơ khai có một sự vận chuyển các điện tích dương từ vùng dương, sang vùng âm, gây ra trong tiền Vũ Trụ một trận “bão điện từ” siêu tốc. Khi hai khối Ion đó càng gần nhau thì tốc độ các dòng xoáy chuyển động càng lớn. Sắp tới gần, khối xoáy khí siêu khổng chứa điện tích dương, phóng một luồng điện cực mạnh vào khối xoáy khí siêu khổng chứa điện tích âm. Sự va đập cực mạnh của hai khối khổng lồ điện tích trái dấu đó, sinh ra một “vụ nổ lớn” - sét Vũ Trụ, tất tạo ra nhiệt độ vô cùng cao: có thể
nhiệt độ trên ngưỡng 15 trăm nghìn triệu độ Kenvin (15.10***K) trong một phần trăm của giây đầu tiên. 11 Về nhiệt độ và các hạt cơ bản ở giai đoạn Vũ Trụ sơ khai chúng tôi có sử dụng một phần tài liệu của giả thuyết: “Ba phút đầu tiên” của Cteven Weinberg - Mỹ (TG).
Nhiệt lượng do sét Vũ Trụ tạo ra trong Vũ Trụ sơ khai, đó là nguồn năng lượng của cả đại Thiên Hà ngày nay, cộng với nhiệt lượng đã bức xạ hơn 25 tỷ năm - có thể nói: Đó là nguồn gốc năng lượng của tất cả các Thiên Hà, các vì sao, Mặt Trời và các Hành Tinh có nguồn gốc, khối lượng và nhiệt lượng như vậy.
Nhiệt độ vô cùng lớn đó đã tán nhỏ hạt prôton và electron trong các Ion Hydro, để tạo thành rất nhiều các loại siêu nhỏ: photon, poziton, nơtrino và hạt mà lý thuyết gọi là “quắc” (lý thuyết quắc do Myrray - Gellnan và George - Zweg đưa ra) còn có thể có những loại hạt bé hơn cả electron, positon mà lý thuyết vật lý hạt nhân ngày nay chưa tìm ra. Các hạt đó đã kết hợp với nhau tạo nên các hạt notrino, các mezon, và quắc là do các hạt mang điện tích trái dấu tạo nên. Tóm lại ở nhiệt độ siêu cao 10**** K, Vũ Trụ trong trạng thái cân bằng nhiệt, mật độ năng lượng vô cùng lớn. Năng lượng đó phần lớn do photon, nơtrino, hoặc do sự huỷ cặp giữa electron và poziton cung cấp và nhiệt lượng trong Vũ Trụ sơ khai đã tải vào phông bức xạ về mọi hướng của Vũ Trụ.
Phông bức xạ ngày nay đo được 30K do Penziss Wilson thực hiện.
Sau một thời gian (hiện nay chưa tính được là bao nhiêu) nhiệt độ siêu cao đó đã hạ xuống do bức xạ, còn vào cỡ trên trăm ngàn triệu độ Kenvin (10***K) các đại lượng được bảo toàn - điện tích: số Barion, số Lepton - tất cả đều rất bé hoặc bằng 0.
Nhưng tại sao trong mớ “súp” hỗn độn đó những cặp phản hạt lại không huỷ nhau biến thành năng lượng ánh sáng hoàn toàn? Theo quan điểm của giả thuyết “Ba phút đầu tiên” vật chất dư thừa để tạo nên hàng tỷ Thiên Hà ngày nay là phần sót lại sau giai đoạn các cặp hạt huỷ nhau trong Vũ Trụ sơ khai.
Giả thuyết này giải thích như sau: Sau vụ tổng hợp nhiệt hạch để kết tụ vật liệu trong 1% của giây đầu tiên, do “sét Vũ Trụ ” tạo nên, cả một vùng rộng lớn năng lượng sơ khai đó được tạo thành một dòng xoáy theo một chiều và cả khối cầu khí siêu khổng và siêu nhiệt đó quay siêu tốc (sự tạo nên mômen quay đó là do tổng mômen của các hạt chứa điện tích dương như: prôton, poziton, nuyon dương có cùng một chiều xoáy tạo nên). Tổng năng lượng nghỉ của các hạt chứa điện tích dương trong toàn bộ khối lượng của cả đại Thiên Hà lớn hơn tổng năng lượng nghỉ của các hạt mang điện tích âm. Nhưng điện tích của chúng lại cân bằng nhau, có thể nói tổng khối lượng và tổng điện tích bằng 0. Cả khối cầu sơ khai gọi là gốc đại Thiên Hà nguyên sơ có chiều quay thuận dương (ngược chiều kim đồng hồ), nhìn từ cực Bắc.
Khi quay ly tâm cả khối cầu siêu khổng lồ đó được tập trung các hạt nặng vào trong nhân, còn các hạt nhẹ được phân bố ra ngoài (theo nguyên lý trong 15 điều của “Mật mã Vũ Trụ ” đưa ra trong phần đầu) các hạt nặng lúc bấy giờ chủ yếu là prôton chiếm ưu thế, còn các hạt như nơtron thì chưa xuất hiện. Trong lúc phân bố các hạt mang điện tích khác nhau về trọng lượng, chạy ra ngoài và chạy vào trong thì xảy ra rất nhiều vụ huỷ các cặp hạt để biến thành năng lượng, ánh sáng. Phân tích như vậy có nghĩa là các hạt nặng mang điện tích dương như prôton phải được tập trung vào nhân gốc đại Thiên Hà nguyên thủy, còn các hạt có khối lượng bé như: electron, nơtrino, phản nơtrino, poziton, nuyon và các nêzon phân bố ra lớp vỏ. Có sự phân bố như vậy cho nên các cặp hạt không thể hủy nhanh và huỷ hoàn toàn được.
Sau một thời gian bức xạ (chưa tính được chính xác là bao nhiêu?) khi nhiệt độ của gốc đại Thiên Hà đã giảm xuống, thì các hạt xích lại gần nhau hơn về khoảng cách (do mômen tự quay của các điện tích dương giảm) nên các hạt mới được tạo thành, thuộc các nhóm Hađron như mezonpi, nơtron.
Khi các hạt nơtron được tạo thành ngày một nhiều hơn, vì khối lượng nặng nên chúng cũng được tập trung vào nhân của gốc đại Thiên Hà nguyên thuỷ để kết hợp với các prôton tạo ra cặp hạt nhân nhẹ đó là Dêteri - (1 prôton và 1 notron). Khi đã xuất hiện các hạt nơtron trong nhân đại Thiên Hà gốc, thì cả khối cầu đó bắt đầu xuất hiện từ trường. Theo lý thuyết của giả thuyết này nơtron là loại hạt chứa hai điện tích trái dấu nhau: Một khối lượng điện tích dương = 1 proton 1 khối lượng điện tích âm = 1 electron + với 1 nơtrino âm) hạt này tạo nên lực hạt nhân trong nguyên tử; tức là phần mang điện tích âm tương tác với prôton trong hạt nhân và áp đảp lực Culon là do lượng điện tích âm hơn điện tích dương prôton bởi 1 nơtrino âm.
Khi các dòng hạt nơtron trong gốc đại Thiên Hà tạo ra từ trường có hai cực: cực Bắc thuộc dương và cực Nam thuộc âm. Cả khối cầu đó có sự phân bố ngay lại các điện tích: phần từ cực Bắc đến xích đạo thuộc điện tích dương chiếm ưu thế - vùng Ion dương, còn cực Nam thì ngược lại, từ xích đạo trở xuống điện tích âm chiếm ưu thế - vùng Ion âm. Vì có sự phân bố điện tích như vậy cả gốc đại Thiên Hà sinh ra một từ trường vô cùng lớn với bán kính của nó có thể đạt tới 30 tỷ năm ánh sáng. (Vật lý thiên văn ngày nay chưa có lý thuyết về sự tạo nên từ trường của các Thiên Hà, các vì sao, Mặt Trời, Hành Tinh và vệ tinh). Các hạt nơtron trong giai đoạn Vũ Trụ sơ khai có tuổi thọ không bền, tạo nên rồi lại phân rã ngay do va chạm với tốc độ rất nhanh của các electron hoặc positron và phát ra rất nhiều loại bức xạ. Bức xạ Rơnghen, Gamma, và bức xạ Nơtrino với năng lượng vô cùng lớn. Nơtron cũng chưa tiến gần tới hạt proton được vì ở giai đoạn này nhiệt độ còn quá lớn nên các cặp hạt nhân cũng chưa bền. Và như vậy mật độ hạt trong 1km3 trong Vũ Trụ sơ khai nhỏ hơn ngày nay, vì nhiệt độ quá cao, và lực đẩy Culon giữa các hạt proton mang điện tích dương rất lớn. 11 Theo mô hình của Pridman thì tiền Vũ Trụ sơ khai là một khối vật chất siêu đặc được nổ tung cách đây 20 tỷ năm - vụ nổ lớn - mật độ đó được tính theo tốc độ giãn nở của đại Thiên Hà ngày nay do bằng hằng số Humble với thời gian 20 tỷ năm để biết được. Theo lý thuyết của giả thuyết này Vũ Trụ sơ khai là một khối cầu siêu khổng, siêu nhiệt, siêu từ trường nhưng không siêu đặc. Vì nhiệt độ đó rất lớn như vậy các hạt chứa điện tích dương như proton có mômen tự quay siêu tốc sấp xỉ tốc độ ánh sáng, nên lực văng ly tâm của nó rất lớn các hạt có mật độ còn rất thưa. Khi nhiệt độ hạ xuống 9,010K thì nhận xét cặp hạt nhân nặng như Đeteri, Triti mới được tạo lập và tiếp đó các hạt nhân nặng như Heli được tạo thành do tổng hợp Đeteri (phản ứng tổng hợp nhiệt hạch) (TG).
Tỷ lệ chênh lệch giữa nơtron và prôton ở các nhiệt độ khác nhau theo giả thuyết “Ba phút đầu tiên”:
3,1010K - 38% nơtron 62% proton;
1010K - 24% nơtron 76% proton;
3,109K - 17% nơtron 83% proton;
Và ở nhiệt độ 109K - 14% nơtron 86% proton.
Theo như nguyên lý Vũ Trụ học số Heli được tạo ra không quá 28% theo trọng lượng.
Lý thuyết của giả thuyết này giải thích như sau:
Số Heli được tạo ra không quá 28% theo trọng lượng đã được khảo sát trong Vũ Trụ là do phản ứng tổng hợp nhiệt hạch cung cấp biến 2 Đêteri đồng vị của Hydro, hoặc 4 nguyên tử Hydro để tạo thành. Theo lý thuyết về cấu trúc nhân gốc đại Thiên Hà, nhân Thiên Hà, các sao Mặt Trời thì chủ yếu là các hạt nuclon vì thế phản ứng để tạo ra Heli chỉ xảy ra ở phần ngoài của nhân mà thôi vì các electron là loại hạt nhẹ không thể tồn tại trong nhân của các Thiên Hà, sao, Mặt Trời...ở nhiệt độ siêu cao và áp suất lớn. Vì lý do như vậy các nguyên tố nhẹ như Đêteri hoặc Hydro không có trong nhân của chúng được. Như vậy có nghĩa là số Heli được tạo ra không quá 28% của trọng lượng là do các phản ứng ở ngoài nhân cung cấp.
Khi nhiệt độ của Vũ Trụ sơ khai là 300 nghìn triệu độ Kelvin, các nguyên tử bền vẫn chưa có khả năng tồn tại được lâu. Phải sau một thời kỳ bức xạ, nhiệt độ hạ xuống cỡ trăm nghìn triệu độ Kelwin thì electron và nhóm nuclon đã có thể tạo thành những nguyên tử bền. Giai đoạn tiền Vũ Trụ sơ khai Đêteri có nhiều hơn nguyên tố Hêli, nhưng khi nhiệt độ đã hạ xuống nữa thì Heli lại chiếm ưu thế hơn Đêteri. Điều đó có nghĩa tính chất quyết định của nhiệt độ để tạo nên các nguyên tố khác nhau.
Phần trên chúng ta đã phân tích đi sâu tìm hiểu về nguồn gốc tạo ra năng lượng trong đại Thiên Hà nguyên thủy và ngày nay là do phản ứng tổng hợp nhiệt hạch kết tụ do hai khối khí Ion Hydro tạo thành, ở nhiệt độ siêu cao đó đã xuất hiện những loại hạt cơ bản nào, và quá trình tương tác giữa các hạt đó để tạo ra nhiều nguyên tố mới, mỗi khi nhiệt độ Vũ Trụ hạ xuống.
Giả thuyết này cũng đã giải thích được khối lượng và nhiệt lượng của đại Thiên Hà ngày nay được tạo ra bằng cách nào. Khối cầu gốc đó đã tạo ra từ trường ra sao để dẫn đến tiếp chương sau là sự thành các Thiên Hà. Thiên Hà xoáy ốc, Thiên Hà elip và các Quaza.

└(≣) Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ ! 09 Tháng 11 2013 17:45 #2734

  • Lê ĐìnhQuỳ
  • không trực tuyến
  • Meteorite
  • Tổng số bài viết: 14
10. SỰ TẠO THÀNH CÁC THIÊN HÀ


Sau khi gốc đại Thiên Hà đã được thiết lập sau vụ sét Vũ Trụ (hiện tượng giống sét cầu trong khí quyển của Trái Đất) khối cầu đó tự xoay quanh trục theo chiều thuận dương đứng tại chỗ, và đã sinh ra phân bố Ion dương và âm ở hai bán cầu.
Sau khi ra đời được một thời gian do bức xạ nhiệt cho nên vỏ của gốc đại Thiên Hà nguyên sơ co lại làm mất cân bằng áp suất trong nhân, xảy ra liên tục các vụ nổ lớn để sinh ra hàng tỷ Thiên Hà. Các vụ nổ đầu là lớn nhất và sinh ra được nhiều gốc Thiên Hà nhất. Các Thiên Hà ra đời cũng theo nguyên lý âm dương: vật chất được nổ ra từ bán cầu Bắc của gốc Thiên Hà nguyên sơ thì tạo ra các Thiên Hà xoáy ốc có chiều quay thuận dương (ngược kim đồng hồ nếu nhìn từ hoàng cực Bắc). Các Thiên Hà êlíp được nổ ra từ bán cầu thuộc âm của gốc đại Thiên Hà, cho nên có chiều quay thuận âm, còn các Quaza vật chất được nổ ra từ nhân của gốc đại Thiên Hà nguyên sơ. Khi được nổ ra các Thiên Hà gốc thì khối lượng của chúng tập trung chỉ là một khối cầu siêu khổng chưa có sự phân bố ra các sao, quần tinh cầu, hoặc các Mặt Trời,... các Thiên Hà gốc nổ ra đều quay quanh tâm của gốc đại Thiên Hà nguyên sơ theo quỹ đạo tròn.
Các Thiên Hà, các Quaza được xác định bán kính quỹ đạo bởi lực nổ đẩy văng ra và lực hấp dẫn của tâm gốc cân bằng nhau. Quỹ đạo của chúng là tròn vì tâm gốc không di chuyển. cấu trúc Vũ Trụ lúc bấy giờ theo dạng cầu tròn.
Tốc độ của các Thiên Hà quay quanh tâm rất siêu tốc. Do hiện tượng quay quanh tâm gốc đó mà ngày nay khảo sát được bằng hiệu ứng Dople, không phải các Thiên Hà đang tách khỏi tâm nổ để giãn nở vô hạn như các lý thuyết của các nhà khoa học đã đề cập "Thuyết Vũ Trụ giãn nở". Theo quan điểm của giả thuyết này, lực nổ, sau 20 tỷ năm không thể còn đẩy các Thiên Hà ra mọi phía được, mà các Thiên Hà đã dừng lại trên quỹ đạo hơn 10 tỷ năm. Điều đó chứng tỏ quan điểm mới ở giả thuyết này là: Vũ Trụ trong vụ nổ đầu là tổng hợp kết tụ thành gốc số 1, rồi từ đó mới nổ hàng tỷ các vụ nổ sinh ra các Thiên Hà gốc và các Quaza, không phải quan điểm như Big Bang, “Vụ nổ lớn” phân rã sinh ra các Thiên Hà ngay. Nếu quan điểm như vậy thì vật chất ban đầu để nổ xuất phát từ cái gì để có tâm nổ số 1? Và như vậy theo quan điểm của giả thuyết này Vũ Trụ ngày nay có tâm, các tỷ Thiên Hà đều quay quanh tâm gốc đó, gây ra cảm giác Vũ Trụ đang giãn nở, (theo quan sát hiệu ứng Dople).
Thời khắc khi các Thiên Hà được nổ ra từ tâm gốc thì không gian Vũ Trụ sơ khai còn gồ ghề, lộn xộn. Sau một thời gian các Thiên Hà được thiết lập xung quanh tâm gốc theo dạng cầu tròn - Vũ Trụ có cấu trúc "Hình cầu tròn và có tâm". Tâm có lực tự quay hấp dẫn với hàng tỷ Thiên Hà quay theo cùng một chiều với tâm gốc. Theo ước đoán đường kính của Vũ Trụ ngày nay vào cỡ 40 tỷ năm ánh sáng. Bán kính của Vũ Trụ lúc mới ra đời nhỏ hơn, so với ngày nay, vì lúc bấy giờ lực hấp dẫn giữa chúng còn vô cùng lớn. Ngày nay sau 20 tỷ năm bức xạ nhiệt cả đại Vũ Trụ đã mất năng lượng nên lực hấp dẫn kém, các Thiên Hà mở rộng dần (tốc độ giãn nở chậm chạp).
Các Thiên Hà ngày nay quan sát được to hay nhỏ nó phụ thuộc vào Thiên Hà gốc, được nổ ra khối lượng lớn hoặc bé. Giả thuyết này xây dựng mô hình cấu trúc của Vũ Trụ cũng giống như mô hình Vũ Trụ hình cầu của Pridman, Lemetre, Enstein. Nhưng mô hình Vũ Trụ này có tâm, và theo quan điểm của các mô hình trên là các Thiên Hà vẫn đang tiếp tục giãn nở cho đến ngày nay với tốc độ 240 nghìn Km/s như Quaza,... đó mà mô hình của Pridman không có tâm gốc.
Sau nhiều vụ nổ sinh ra hàng tỷ Thiên Hà, khi mômen động lượng của tâm gốc đã cân bằng với tổng mômen động lượng của hàng tỷ Thiên Hà thì tâm gốc không sinh ra Thiên Hà nào nữa. 11 Ngày nay trên Trái Đất của chúng ta các nhà khảo sát thiên văn đã nhận được những bước sóng Gamma vô cùng lớn, không phải bước sóng của các Thiên Hà hay Quaza, chính những bước sóng đó, theo giả thuyết này là các vụ nổ tiếp tục xảy ra ở tâm gốc vô cùng lớn tạo ra. Còn các nhà thiên văn thì chưa biết bước sóng lớn đó xuất hiện từ đâu, nó không phải các bước sóng xuất phát từ Thiên Hà (TG).
Khi các Thiên Hà gốc ra đời cũng tiếp tục mật mã di truyền: nổ để sinh ra các gốc quần tinh cầu, gốc quần tinh phân tán và các siêu sao,... Các sao tiếp tục lại nổ ra các Hành Tinh, vệ tinh,... đó là một quy luật nhất quán phát sinh, phát triển của Vũ Trụ. Mô hình của Vũ Trụ được xem là một cây “đại thụ “ được sinh ra từ tâm gốc số 1 và nổ nhỏ dần ra các cành nhánh.
Theo quan điểm của giả thuyết này đại Vũ Trụ vô hạn về không gian, thì vật chất cũng vô hạn. Điều đó có nghĩa là: Mỗi một không gian thì có một cây đại Vũ Trụ và cả rừng cây đại Vũ Trụ đó lấp đầy tất cả các không gian vô hạn. Chứ không phải vật chất trong Vũ Trụ lại được tích tụ ở một miền hay một điểm nào đó và chỉ có một mà thôi. Ta hãy tưởng tượng mô hình của Vũ Trụ giống như các vật chất khí trong không gian của khí quyển chúng ta cũng chỉ nằm ở không gian của đại Thiên Hà chúng ta mà thôi, còn vô số các đại Thiên Hà khác rải rác lấp đầy khoảng không. Kết luận này để giải thích một câu hỏi lớn: “Ngoài đại Thiên Hà của chúng ta ra, trong Vũ Trụ không gian vô hạn: Nó là cái gì ? Có cái gì?”.
Kết luận: Một đại Thiên Hà được giới hạn trong một không gian nhất định, có tuổi thọ nhất định, tức là có phát sinh, phát triển đến cực đại và huỷ diệt, lại trở về thể khí ban đầu, theo chu trình khép kín. Trong không gian vô hạn các Vũ Trụ khác cũng có quy luật đúng như vậy.
Bản thể của Vũ Trụ không có không gian và thời gian, nó chỉ xuất hiện khi một đại Thiên Hà ra đời, mới có không gian và thời gian tương đối với nó. Ví dụ: Lấy Trái Đất của chúng ta làm một đại lượng về thời gian: 24h được gọi là một ngày, 365 ngày gọi là một năm, 1000 năm gọi là một thiên niên kỷ để làm thước đo cho thời gian phát sinh, phát triển và huỷ diệt của Vũ Trụ chúng ta.
Quan điểm về thời gian như vậy để trả lời cho câu hỏi: "Thời gian trôi về đâu". Không gian và thời gian trong Vũ Trụ vô hạn tức là bằng 0, không có bắt đầu, cũng không có kết thúc. Các nhà triết học phương Đông quan niệm nó là: “Vô thủy vô chung”.
NGHIÊN CỨU THIÊN HÀ CỦA CHÚNG TA 11 Khi viết giả thuyết về Thiên Hà của chúng ta thì kính thiên văn chưa phát hiện ra Nhân của Thiên Hà mà quan sát thấy hơn 150 tỷ Ngôi sao đang quay quanh lỗ trống, sau đó vài năm thì kính viễn vọng đã phát hiện sau lớp bụi Vũ Trụ thấy được Nhân Thiên Hà của chúng ta vào cỡ 1000 năm ánh sáng đường kính, trong năm đó (1984) tác giả đã khẳng định dứt khoát 150 tỷ Ngôi sao phải quay quanh một Tâm vô cùng lớn, khối lượng của tâm gấp hàng nghìn lần tổng khối lượng của 150 tỷ ngôi sao. Điều đó có nghĩa là quy luật của Vũ Trụ rất nhất quán: Từ vi mô đến vĩ mô và tự nhiên, các hệ đều có tâm gốc của chúng điều khiển) (TG).
Thiên Hà của chúng ta có mấy đặc điểm sau:
Cả tập đoàn sao cấu tạo thành chiếc đĩa lồi hai mặt, quay quanh trục theo chiều thuận dương (ngược chiều kim đồng hồ), nhìn từ hoàng cực Bắc. Thiên Hà của chúng ta cũng đang chuyển động quanh gốc đại Thiên Hà theo quỹ đạo tròn, có chiều thuận dương. Qua quan sát Thiên Hà của chúng ta như vậy, có thể nói rằng: Nó được ra đời từ bán cầu Bắc, (bán cầu thuộc dương) của gốc đại Thiên Hà nguyên sơ.
Thiên Hà của chúng ta thuộc dương - Thiên Hà xoáy ốc, do cả hệ sao chuyển động quanh tâm mà tạo thành. Lúc Thiên Hà mới ra đời thì khối lượng tập trung ở một khối. Sau đó theo mật mã Vũ Trụ nổ liên tục sinh ra các quần tinh cầu, quần tinh phân tán, các siêu sao trong đó có Mặt Trời của chúng ta. Các gốc quần tinh cầu có khối lượng lớn, cho nên nằm gần tâm Thiên Hà hơn, và khi gốc quần tinh cầu đó nổ ra các sao thì cả hệ sao đó quay theo tâm gốc dạng cầu tròn. Sở dĩ quần tinh cầu có cấu trúc cầu tròn là vì gốc của quần tinh cầu nhiệt độ còn vô cùng lớn còn chưa phân bố điện tích Ion âm dương, nên chưa có mặt phẳng triệt tiêu của từ lực. Các sao của hệ quần tinh cầu chuyển động giống mô hình nguyên tử.
Quần tinh phân tán nằm gần ngoài biên đĩa của Thiên Hà và các siêu sao lại nằm xa hơn nữa, cho nên Thiên Hà có cấu trúc đĩa lồi hai mặt là vì vậy. Nhân Thiên Hà của chúng ta cũng đã có phân bố Ion tạo ra từ trường nhưng còn yếu vì nhiệt độ trong nhân còn cao tới hàng trăm ngàn triệu độ Kenvin. Xu hướng của các sao và quần tinh phân tán đang chuyển dịch về mặt phẳng cân bằng lực cho nên nhìn lên Thiên Hà của chúng ta thấy có một khoảng trống, ta thường gọị là “sông Ngân Hà”.
Hơn 150 tỷ ngôi sao đang quay quanh tâm gốc của Thiên Hà. Điều đó chứng tỏ tâm Thiên Hà có kết cấu vật liêu siêu khổng, siêu nặng, siêu hấp dẫn, tỷ trọng của nhân có thể lên tới hàng tỷ tấn trên 1cm3. Tâm của Thiên Hà quay như một vật rắn. Ngày nay trong Thiên Hà của chúng ta vẫn nổ để sinh ra các siêu sao, các sao, các sao đôi. Giả thuyết này khác với các giả thuyết về sự tạo thành Thiên Hà ở chỗ cũng do lịch trình các vụ nổ để tạo nên cả hệ sao quần tinh,... Tốc độ chuyển động Thiên Hà của chúng ta quay tâm gốc rất nhanh gây ra sự giãn nở Vũ Trụ, kính viễn vọng đã quan sát được bằng hiệu ứng Dople (tức là những Thiên Hà đang đi xa ta thì ánh sáng dịch về phía đỏ, còn Thiên Hà Tiên Nữ lại đang dịch về phía tím có nghĩa là Thiên Hà đó đang tiến gần đến chúng ta. Theo giả thiết này, chúng
đều đang quay quanh một tâm với những tốc độ siêu tốc mà gây ra hiện tượng tách giãn). Các lý thuyết của nhiều nhà khoa học khác, khi quan sát hiệu ứng này thì lại kết luận là sau vụ nổ lớn các Thiên Hà đang tách khỏi tâm nổ là khoảng trống vì như quả đạn đại bác nổ trong không gian, thì các mảnh văng về mọi phía như hiện tượng giãn nở của các Thiên Hà. Còn theo lý thuyết này do các Thiên Hà đều quay quanh một tâm có quỹ đạo rất lớn cho nên chúng ta thấy có những Thiên Hà đang đi xa chúng ta, nhưng lại có Thiên Hà đang tiến lại gần chúng ta là vì vậy. Điều đó khẳng định rằng Vũ Trụ dứt khoát phải có một tâm siêu khổng: Đó là gốc đại Thiên Hà nguyên sơ, nổ ra hàng tỷ Thiên Hà. Điều đó chứng tỏ mọi vật chất trong đại Thiên Hà chúng ta đều xuất phát bắt đầu từ một nguồn, như trong Kinh Phật của phương Đông: Mọi vật chất trong tự nhiên từ cỏ, cây, hoa, lá đến con người, đều có một nguồn gốc chung và chúng có quy luật nhất quán: có sinh có diệt. Theo giả thiết này nguồn năng lượng và khối lượng của đại Vũ Trụ lấy từ gốc đại Thiên Hà nguyên sơ trong vụ “sét Vũ Trụ “ đầu tiên tổng hợp mà thành, chuyển từ thế giới vô hình sang thế giới hữu hình. Thiên Hà của chúng ta khi chết nhiệt kích thước cũng mở rộng dần cho tới cực đại thì diệt vong, rụng dần theo nguyên lý sao chổi. Giả thuyết này khác với các giả thuyết khác là Vũ Trụ giãn nở vô hạn hoặc giãn nở tới mức cực đại rồi Vũ Trụ lại co lại, sinh ra nổ. Các nhà bác học tính mật độ Vũ Trụ bao nhiêu hạt trên 1km3 thì giãn nở vô hạn, còn bao nhiêu hạt trong 1km3 thì co lại. Giả thuyết này dùng nguyên lý của tự nhiên để hiểu quy luật của nó chứ không phải dùng toán học để tính toán mật độ Vũ Trụ trong không gian vô cùng lớn được.
Kết luận: Trong Vũ Trụ không có thế giới phản Vũ Trụ mà chỉ có phản hạt mà thôi vì rằng: Phản vật chất phải có khối lượng bằng nhau và điện tích ngược nhau thì mới tạo thành ánh sáng, còn trong đại Vũ Trụ không thể có những Thiên Hà bằng nhau mà lại ngược về điện tích được, xác xuất đó không thể lặp lại. Vật chất của Vũ Trụ khi ta lần về 10 tỷ năm thì các nhánh vô cơ và hữu cơ nhập lại là một.

└(≣) Giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt Trời - Lê Đình Quỳ ! 09 Tháng 11 2013 17:49 #2735

  • Lê ĐìnhQuỳ
  • không trực tuyến
  • Meteorite
  • Tổng số bài viết: 14
PHẦN THỨ HAI
GIẢ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC HỆ MẶT TRỜI
CỦA KANT - LAPLACE 11

SO SÁNH GIỮA GIẢ THUYẾT MỚI CỦA
LÊ ĐÌNH QUỲ - NGUYỄN XUÂN SÍT - LÊ THỊ HIỆP
VỚI CÁC QUAN SÁT THIÊN VĂN MỚI NHẤT VỀ
THIÊN HÀ VÀ HỆ MẶT TRỜI


1. NGUỒN GỐC HỆ MẶT TRỜI CỦA
KANT - LAPLACE


(Trích từ cuốn sách Những lữ khách của Hệ Mặt Trời
- Phạm Thanh Minh, Nhà xuất bản Trẻ)

ĐÁM MÂY SINH RA HỆ MẶT TRỜI


Khoảng không gian bao la giữa các vì sao có vẻ như hoàn toàn trống rỗng, nhưng thực ra chúng chứa rất nhiều những đám mây bụi khí được tích tụ thành những hạt cực nhỏ. Các đám tinh vân này là tàn dư từ quá trình hình thành những vì sao trước đó, một số khác do các vụ nổ của các siêu sao mới tạo ra.
Khi một đám tinh vân tích tụ lại, nó được hâm nóng lên bởi chính năng lượng hấp dẫn và vận tốc quay cực nhanh của nó. Khi nhiệt độ tăng, các chất rắn lúc ban đầu bị bốc thành hơi. Vì vận tốc ban của đám tinh vân quá lớn nên đã biến nó thành một cái đĩa dẹt và phần lớn tập trung trong một dải vật chất mỏng quay cực nhanh. Ở tâm của đĩa, vật chất gom tụ lại cho đến một lúc nào đó, khi nhiệt độ và áp suất đủ cao để tạo ra phản ứng hạt nhân và một vì sao mà chúng ta gọi là Mặt Trời đã được hình thành. Vào cuối giai đoạn tích tụ cũng là lúc đám tinh vân nóng nhất. Khi không còn năng lượng hấp dẫn để nóng lên nữa, đám tinh vân bắt đầu nguội lại. Tuy nhiên, ở trung tâm của Mặt Trời vừa mới hình thành nhiệt độ vẫn còn rất cao. Khi đám tinh vân nguội lại, các chất khí phản ứng tương tác với nhau và sinh ra các hợp chất, các hợp chất này đọng lại thành các hạt ở thể lỏng và thể rắn. Kim loại và silicat cùng các khoáng vật khác là những vật chất đầu tiên tạo thành các hạt. Khi nhiệt độ tiếp tục giảm, các hạt này liên kết với các hợp chất giàu cacbon và nước mà ngày nay người ta thấy chúng hiện diện rất nhiều trong các Tiểu Hành Tinh. Ở phần bên trong của đám tinh vân nhiệt độ không hạ thấp đủ để các chất này có thể đọng lại, vì thế chúng không hiện diện trong các Hành Tinh trong cùng nhất. Khi nhiệt độ hạ xuống còn -700C, Oxy liên kết với Hydro và đông lại thành băng đá. Trong vùng bên ngoài quỹ đạo của sao Thổ, Cacbon và Nitơ liên kết với Hydro để tạo thêm băng tuyết như Metan và Amoniac. Các hạt vật chất này nhanh chóng tạo nên các vật thể nhỏ có kích thước đủ lớn để hút các vật thể nhỏ hơn ở vùng lân cận và lớn lên dần.

HÌNH THÀNH CÁC HÀNH TINH LỚN


Tại vùng bên trong của hệ Mặt Trời, các vật thể cứng tiếp tục lớn lên nhưng chúng không tương tác với các chất khí còn sót lại của đám tinh vân Mặt Trời. Ngược lại, các Hành Tinh phôi thai ở vùng bên ngoài của hệ Mặt Trời trở nên quá lớn và chúng tiếp tục hút các chất khí xung quanh. Khi Hydro và Heli tập trung nhanh chóng vào nhân của chúng, các Hành Tinh khổng lồ này nóng lên bởi năng lượng co rút của chúng, tương tự như sự co rút của đám tinh vân để rồi cuối cùng châm ngòi cho phản ứng nhiệt hạch trong nhân của Mặt Trời. Tuy nhiên, các Hành Tinh này không lớn đủ để đạt được nhiệt độ và áp suất trong nhân cần thiết để tạo ra phản ứng hạt nhân trong nhân. Sau khi cháy đỏ rực trong vài ngàn năm, chúng dần dần nguội lại cho đến trạng thái như ngày nay.
Một thời gian sau khi các Hành Tinh lớn được tạo thành Mặt Trời phôi thai cũng giống như những vì sao sơ sinh khác đã trải qua một giai đoạn phát sinh ra gió Mặt Trời cực mạnh thổi bay đi các chất khí còn sót lại trong đám tinh vân. Gió Mặt Trời dữ dội chỉ ảnh hưởng rất ít đến các Hành Tinh và các chất rắn khác, nhưng chúng tác động rất mãnh liệt đến các chất khí còn tồn lại và đẩy chúng ra khỏi hệ Mặt Trời. Đám Tinh vân Mặt Trời dần dần tan biến, cuối cùng để lại một vì sao vừa mới hình hành cùng với chín Hành Tinh và vô số những vật thể khác di chuyển chung quanh nó.

2. SỰ TIẾN HOÁ CỦA HỆ MẶT TRỜI


Từ lúc đám tinh vân Mặt Trời co rút lại cho đến lúc các cơn gió Mặt Trời quét nó tan đi chỉ xảy ra trong vài triệu năm. Tuy nhiên trong quá trình hình thành hệ Mặt Trời, số phận của các vật thể nhỏ và các mảnh vụn chưa chấm dứt ở giai đoạn này.
Các mảnh vật chất còn sót lại vẫn tiếp tục tác động lên các Hành Tinh. Mỗi khi một mảnh vụn tiến đến gần một Hành Tinh, dưới tác dụng của lực hấp dẫn, quỹ đạo của nó bị thay đổi, có thể nó bổ nhào vào một Hành Tinh hay bị bắn ra xa hơn. Các vật thể va vào các Hành Tinh trong giai đoạn này có thể đến từ mọi vùng của hệ Mặt Trời. Rất nhiều các mảnh vỡ lao vào các Hành Tinh bên trong là những vật thể đóng băng xuất phát từ vùng bên ngoài của đám tinh vân Mặt Trời. Qua các trận “dội bom” ồ ạt của các vật thể giống như sao chổi này, Trái Đất nhận được một lượng rất lớn chất lỏng và các hợp chất hữu cơ khác nhau, và có thể sau này chính chúng là nguồn gốc của sự sống trên Hành Tinh chúng ta.
Dần dần các Hành Tinh “quét sạch” các mảnh vụn còn lại. Tuy nhiên, trong vùng không gian nằm giữa sao Hỏa và sao Mộc còn tồn tại những vật thể nhỏ di chuyển trên các quỹ đạo rất ổn định, có thể chúng đã không bổ nhào vào các Hành Tinh hay bị bắn ra từ những vụ va chạm lớn. Ngày nay người ta gọi chúng là các Tiểu Hành Tinh. Một lượng lớn hơn những vật thể bị đóng băng, bị bắn ra xa bên ngoài ranh giới của hệ Mặt Trời, có đến hàng tỷ các mảnh vật chất như thế với đường kính đặc trưng chỉ vài kilômét, ngày nay chúng được gọi là sao chổi.

3. LAI LỊCH CỦA “CHỊ HẰNG”


Các mẩu đá đã trả lời ngay được câu hỏi đầu tiên về tuổi của Mặt Trăng. Xác định tuổi bằng phương pháp phóng xạ cho thấy Mặt Trăng được thành hình cùng một lúc với Trái Đất, khoảng 4,6 tỷ năm trước đây. Các mẫu đá còn cho thấy: Mặt Trăng cũng đã trải qua những biến đổi địa chất mạnh mẽ cho đến khoảng 2 tỷ năm trước. Một số câu hỏi quan trọng khác phải chờ tìm câu trả lời lâu hơn, đôi khi hàng thập kỷ.
Từ lâu, các nhà khoa học đã thảo luận về ba khả năng tạo thành hệ thống Trái Đất - Mặt Trăng ngày nay. Người ta hy vọng các chuyến khảo sát Mặt Trăng có thể giúp lý giải một cách rõ ràng, chính xác và đưa ra được lời giải đáp cuối cùng. Tuy nhiên, để trả lời câu hỏi này, quả thực các chuyến đổ bộ lên Mặt Trăng với tổng chi phí gần 20 tỷ đô la làm mọi người thất vọng.
Có thể tóm gọn ba giả thuyết cổ điển về sự hình thành của Mặt Trăng đã được các nhà khoa học tranh luận hơn một trăm năm nay như sau:
1 - Mặt Trăng là một đứa con do Trái Đất sinh ra
2 - Mặt Trăng là một đứa con nuôi của Trái Đất
3 - Mặt Trăng và Trái Đất là chị em sinh đôi
Giả thuyết thứ nhất do George Darwin (1845 - 1912) - người con trai thứ hai trong 10 người con của Charles Darwin (1809 - 1882), ông tổ của thuyết tiến hoá - đề xuất. Theo Darwin con, Mặt Trăng đã được hình thành như sau: Trước đây ít nhất 1 tỷ năm chỉ có Trái Đất tồn tại. Trái Đất quay rất nhanh, một ngày lúc đó chỉ bằng vài giờ hiện nay. Tương ứng với vận tốc quay của Trái Đất, lực ly tâm ở xích đạo cũng rất lớn. Vì thế, Trái Đất bị nhô lên rất nhiều so với ngày nay. Dưới tác dụng của lực ly tâm, “cục u” ở xích đạo ngày càng phình lớn lên và đến một lúc nào đó nó tách ra khỏi Trái Đất. Mặt Trăng tương lai được hình thành và vẫn còn quay quanh gần xích đạo Trái Đất. Tuy nhiên do tác động của lực ly tâm, Mặt Trăng ngày càng bị đẩy ra xa ngoài không gian, đồng thời chuyển động quay của Trái Đất cũng chậm lại. Quá trình này được tiếp diễn cho đến trạng thái ngày nay. Trái Đất quay trong 24 giờ quanh trục của nó và cứ 28 ngày Mặt Trăng quay một vòng quanh Trái Đất. Mặt Trăng là đứa con do chính Trái Đất sinh ra.
Giả thuyết này có nhiều điểm yếu. Sử dụng các mô hình tính toán trên máy điện toán, các nhà khoa học có thể theo dõi quá trình tách rời của Mặt Trăng ra khỏi Trái Đất. Không một trường hợp nào cho thấy vào giai đoạn cuối cùng của quá trình, hai thiên thể này tạo thành một hệ thống Trái Đất - Mặt Trăng như ngày nay. Tuy nhiên, cũng có một luận cứ ủng hộ cho thuyết này là mật độ của Mặt Trăng chỉ bằng 60% mật độ trung bình của Trái Đất. Lớp vỏ bên ngoài của Trái Đất nhẹ hơn mật độ trung bình và tương đương với mật độ của Mặt Trăng. Phải chăng Mặt Trăng là một phần của Trái Đất? Khi các nhà du hành Vũ Trụ từ Mặt Trăng trở về, cuộc tranh luận về nguồn gốc của Mặt Trăng càng trở nên mất phương hướng. Các mẫu đá này cũng tương tự như đá trên Trái Đất, nhưng thiếu một số các nguyên tố dễ bốc hơi, một số nguyên tố có cùng tỷ lệ, một số khác không cùng tỷ lệ với đá trên Trái Đất. Các mẫu đá trên Mặt Trăng không đi ngược lại thuyết tách rời của Darwin.
Giả thuyết thứ hai cho rằng, lúc khởi thủy Mặt Trăng là một Hành Tinh trong hệ Mặt Trời, chuyển động quá gần Trái Đất và bị lực hấp dẫn của Trái Đất và Mặt Trời hút vào một quỹ đạo quay quanh Trái Đất. Trái Đất đã tiếp nhận Hành Tinh này như một “đứa con nuôi”. Trong trường hợp này, vật chất cấu tạo nên Mặt Trăng phải xuất phát từ một vùng khác của hệ Mặt Trời và chúng không giống các vật chất trên Trái Đất. Tuy nhiên, Mặt Trăng được tạo thành từ vật chất tương tự như trên Trái Đất. Đá trên Mặt Trăng và đá trên Trái Đất có cùng thành phần và lịch sử tương tự nhau, mặc dù chúng không cùng một chất.
Cuối cùng chỉ còn lại khả năng thứ ba. Khi Trái Đất hình thành Mặt Trăng cũng được tạo nên ở gần đó với những vật chất tương tự. Trái Đất và Mặt Trăng là “chị em sinh đôi”, cùng ra đời từ đám mây bụi khí của hệ Mặt Trời nguyên thủy, cách ngày nay khoảng 4,6 tỷ năm. Khi Trái Đất dần dần lớn lên, Mặt Trăng phôi thai nằm trên vòng bụi khí xung quanh Trái Đất cũng lớn lên dần. Giả thuyết này tuy có thể giải thích được sự tương đồng của thành phần cấu tạo nên Trái Đất và Mặt Trăng, nhưng không giải thích được tại sao Mặt Trăng không có một cái nhân kim loại giống như nhân của Trái Đất, và cũng không giải thích được sự khác biệt của các chất dễ bốc hơi.
Giả thuyết này hiện đang được phần lớn các nhà khoa học chấp nhận vì nó có thể giải thích được những vấn đề cơ bản liên quan đến nguồn gốc của Mặt Trăng. Mặt Trăng không có một cái nhân sắt bên trong bởi nhân của vật thể va chạm đã bị va vào Trái Đất vì thế Mặt Trăng được tạo ra chủ yếu từ thành phần Silicat của cả hai Thiên thể. Mặt Trăng khô bởi lúc va chạm một lượng nhiệt lớn kinh khủng đã làm bốc hơi tất cả nước lỏng và các chất dễ bốc hơi. Thành phần ôxy đồng vị của Trái Đất và Mặt Trăng giống nhau bởi vật va chạm và Trái Đất được hình thành ở cùng một vùng trong hệ Mặt Trời. Cuối cùng, giả thuyết này lý giải được một vấn đề gay go nhất mà cả ba thuyết cổ điển không giải thích được: Mômen góc của hệ thống Trái Đất - Mặt Trăng, vật thể va vào Trái Đất ở một nơi xa với trục quay của Trái Đất, vì thế chính sự va chạm đã làm cho Trái Đất quay nhanh như ngày nay.

4. SOHO KHÁM PHÁ BÍ MẬT CỦA MẶT TRỜI


(Để so sánh giữa lý thuyết với thực tiễn khảo sát Mặt Trời, tôi xin trích một đoạn cũng trong cuốn sách Những lữ khách của Hệ Mặt Trời
- Phạm Thanh Minh- Nhà xuất bản Trẻ)

Một trở ngại lớn trong việc nghiên cứu các hoạt động của Mặt Trời chính là vì Trái Đất không đứng yên, do đó người ta không thể quan sát Mặt Trời liên tục 24 giờ trong một ngày. Vì không thể theo dõi Mặt Trời vào lúc ban đêm, nên kết quả ghi nhận về các chấn động trên Mặt Trời chỉ có thể thực hiện chính xác cho khoảng 80% đoạn đường từ bề mặt đến tâm Mặt Trời, tương đương với khoảng 66% khối lượng của Mặt Trời. Theo dõi Mặt Trời trong nhiều ngày, nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng liên tục cho phép các nhà khoa học “nhìn” sâu hơn và chính xác hơn, vào đến tận tâm của Mặt Trời.
Để có thể lý giải một phần nào những bí ẩn của vì sao trung tâm của chúng ta, vệ tinh SOHO (Solar and Heliospherie Observatory - Trạm quan sát Mặt Trời và nhật quyển) nặng 2 tấn, trị giá 1 tỷ đô la do hai cơ quan nghiên cứu không gian ESA của châu Âu và NASA của Mỹ phóng lên không gian ngày 2-12-1995 và đến mục tiêu ngày 14-2-1996 tại một vị trí được gọi là “điểm Lagrange”. Tại điểm này, SOHO được cân bằng bởi lực hấp dẫn của Trái Đất và của Mặt Trời, như thế nó chuyển động trên một quỹ đạo cùng với Trái Đất quanh Mặt Trời. Các vệ tinh thám hiểm Mặt Trời trước đây đều nằm trên các quỹ đạo quanh Trái Đất. Vì thế tầm quan sát của chúng bị cản một phần. Ngược lại, SOHO theo dõi Mặt Trời liên tục với 12 thiết bị khoa học, hàng ngày SOHO gửi hàng chục ngàn bức ảnh về Trung tâm điều khiển bay (Goddard Space Flight Center) của NASA ở Greenbelt, Madison.
Hơn ba thế kỷ nay, qua quan sát các vết đen, các nhà thiên văn biết là vùng xích đạo của Mặt Trời quay nhanh hơn các vùng ở gần hai cực. Chu kỳ quay của Mặt Trời ở xích đạo là 25 ngày và ở vĩ tuyến 400 là 27,8 ngày, càng gần hai cực chu kỳ quay càng lâu hơn. Nhưng những kết quả quan sát gần đây của SOHO đi ngược lại những gì người ta chờ đợi, sự khác biệt này chỉ đúng cho đến đáy của tầng đối lưu, khoảng 28% chiều sâu từ bề mặt đến tâm của Mặt Trời. Càng xuống sâu, vận tốc quay ở xích đạo chậm lại và ở hai cực nhanh lên. Tiến đến độ sâu khoảng phần nửa bán kính Mặt Trời thì hai vận tốc quay mới bằng nhau. Xuống sâu hơn, chu kỳ quay rất đều và không tuỳ thuộc vào vĩ độ. Đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa giải thích được nguyên nhân tạo nên chuyển động quay lạ lùng này.

5. CUỘC PHIÊU LƯU CỦA ULYSSES


Bắt đầu cuộc hành trình, vệ tinh viễn thám Ulysses tiến đến sao Mộc trên mặt phẳng quỹ đạo của tháng 2-1992, dùng trường hấp dẫn của sao Mộc để thay đổi quỹ đạo: Ulysses bắt đầu một cuộc mạo hiểm táo bạo và rất thành công, lần đầu tiên một vệ tinh nhân tạo đã bay qua hai cực của Mặt Trời.
Mặt Trời thường xuyên “thổi” vào khoảng không gian giữa các Hành Tinh những cơn gió Ion và electron. Vì thế vùng xung quanh Mặt Trời không phải là khoảng chân không mà đầy gió Mặt Trời xuyên qua một vùng không gian có bán kính khoảng 100AU (AU: đơn vị thiên văn). Gió Mặt Trời bắt nguồn từ vành nhật hoa, nơi mà nhiệt độ lên đến hàng triệu độ làm cho các chất bị Ion hóa và chuyển động cho đến khi chúng vượt qua được lực hấp dẫn của Mặt Trời và bị bắn ra không gian với tốc độ từ 300 đến 1.000Km/s. Giống như những cơn gió trên Trái Đất, gió Mặt Trời cũng thường xuyên thay đổi: lúc mạnh, lúc yếu. Có khi cũng có những cơn bão dữ dội, có lúc tương đối yên tĩnh. Các bức ảnh chụp là gió Mặt Trời phải thay đổi theo kinh tuyến và vĩ tuyến của Mặt Trời. Tuy nhiên, hầu như tất cả các quan sát về gió Mặt Trời đến nay đều do các vệ tinh bay trên mặt phẳng quỹ đạo của Trái Đất thực hiện.
Khi Ulysses ở vào vĩ tuyến khoảng 400 về phía Nam của Mặt Trời, nó rơi vào một cơn gió Mặt Trời có vận tốc trung bình khoảng 750Km/s, lớn gấp đôi vận tốc ở xích đạo. Vận tốc này không thay đổi cho đến vĩ tuyến 22, sau đó gió Mặt Trời di chuyển chậm dần về phía xích đạo. Từ tháng 4- 1995, Ulysses lại rơi vào một vùng có gió Mặt Trời với vận tốc rất mạnh, lần này ở bán cầu Bắc của Mặt Trời, các cơn gió phương Bắc không khác gì gió phía Nam (những khảo sát trên khớp với nguyên lý cấu trúc của Mặt Trời do hai bán cầu nam châm Mặt Trời quyết định tốc độ của các dòng hạt).
Sau khi hoàn tất chuyến thám hiểm hai cực của Mặt Trời, Ulysses tiếp tục cuộc hành trình khám phá. Năm năm sau, vào năm 2000-2001, Ulysses sẽ trở lại khảo sát hai cực của Mặt Trời lần nữa, đúng vào lúc Mặt Trời ở vào chu kỳ hoạt động cực đại.
Qua hai vệ tinh viễn thám trên đã khảo sát được rất khớp với lý thuyết đã đưa ra: các khối khí ở xích đạo vì bị hãm lực giữa âm và dương của từ trường cho nên các dòng hạt ở vùng này chuyển động chậm và nhiệt độ kém. Còn từ 20 - 400 vĩ Bắc theo giả thuyết này các dòng hạt chuyển động rất lớn cho nên nhiệt năng rất cao gây ra gió Mặt Trời mạnh, đạt tới 750Km/s, kể cả vĩ độ ở bán cầu Bắc cũng như ở vĩ độ đó bán cầu Nam, còn ở hai gần đầu cực của Mặt Trời, theo giả thuyết này các dòng hạt chuyển động chậm cũng bị hãm lực của hai cực từ trường Mặt Trời.
Phần phân bố Ion âm và dương ở bán cầu Bắc và bán cầu Nam nằm ngoài từ phần nhân ra ngoài vỏ Mặt Trời. Vì như vậy, khảo sát vùng ở xích đạo các dòng hạt bị hãm hoạt động kém. Còn ở trong nhân Mặt Trời, cả một khối cầu chứa hạt nhân nguyên tử trần trụi cho nên cả khối cầu này chuyển động cùng một tốc độ là vì như vậy.
  • Trang:
  • 1
  • 2
Thời gian tải trang: 0.98 giây

HỘI THIÊN VĂN HỌC TRẺ VIỆT NAM

Vietnam Astronomy and Cosmology Association (VACA)

Văn phòng: 90b Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội

Điện thoại: 091.530.1116; Email: info@thienvanvietnam.org